Tưởng nhớ Tướng Bùi Thế Lân (bài 2)

Đoạn trích của bài này sau đây là điều chúng ta cần suy ngẫm:

…..Nhưng rồi một ông Trung tướng Mỹ của tòa Đại Sứ Mỹ ở Sài Gòn vào thuyết phục người đứng đầu cuộc đảo chính rằng “Các ông không cần đảo chánh, nếu Tổng Thống Thiệu ra đi, chỉ còn các ông chứ ai nữa. Nếu các ông làm người dân thiệt hại nặng nề, thành phố tan hoang, sẽ mang tội với lịch sử. Chi bằng các ông cứ đợi đó, bất chiến tự nhiên thành” Cú lừa ngoạn mục này đã khiến người đứng đầu đảo chánh dễ dàng buông tay. …..HẾT TRÍCH.

Bài nhận xét về câu này ở cuối cùng của bài này.

Tưởng nhớ Tướng Bùi Thế Lân (bài 2)

Thưa quý vị

Khi đọc bài "Tưởng nhớ Tướng Bùi Thế Lân" của nhà văn Văn Quang, tôi chú ý chi tiết về vụ đảo chánh năm 1975. Tôi có mail hỏi ô Văn Quang. Sau đây là câu trả lời từ ông.

Nhận định của tôi là: có thể có kế hoạch đảo chánh thật. Suy nghĩ của Văn Quang về việc so sánh Nam Hàn với VNCH lúc đó là đúng, nghĩa là nếu đảo chánh thành công, "bảo vệ’ 2,000 gia đình người Mỹ ở Sài Gòn thực chất là giữ làm "con tin" thì thời cuộc có thể biến chuyển khác. Sự sụp đổ của Sài Gòn sẽ không nhanh chóng vội vã và biết đâu một giải pháp trung lập đã thành hình và như vậy: sẽ không có chuyện hàng trăm ngàn người vượt biển Đông tìm tự do và hàng ngàn ngàn người chết trong lòng biển cả, sẽ không có những thảm trạng cướp bóc hãm hiếp của hải tặc Thái Lan, sẽ không có những trại tù "khốn nạn" nhất của vc đối với quân nhân VNCH, sẽ không làm Việt Nam bị tụt hậu so với Triều tiên, Singapoor, Thái Lan, sẽ không có một Việt Nam như ngày nay.

Hoàng Lan Chi

– Câu hỏi của Lan Ch

Trong bài anh viết “Tưởng nhớ Tướng Bùi Thế Lân”, lý do nào anh không tiết lộ tên "người đứng đầu cuộc đảo chánh". Anh tham gia với tư cách gì và làm gì? Anh có định viết lại toàn bộ chi tiết về cuộc "đảo chánh hụt" này không?

– Văn Quang trả lời:

Anh cũng dự đoán là sẽ có nhiều độc giả muốn biết điều này. Anh cảm ơn tất cả độc giả đã chịu khó theo dõi loạt bài của anh. Về chuyện tên người đứng đầu cuộc đảo chánh, anh chỉ có thể tiết lộ là vị này cũng đã “nằm xuống”. Ngay khi vị đó còn sống, anh cũng chẳng muốn viết bởi có thể gây ra sự hiểu lầm có mâu thuẫn hoặc anh muốn “bới lông tìm vết” người đã từng giữ chững chức vụ cao trong quân đội, đó là điều anh vẫn tránh. Có biết tên người đó cũng chẳng để làm gì. Chỉ biết có kế hoạch đó thật. Anh được mời tham gia vì ông đó biết anh là bạn khá thân với ông Bùi Thế Lân và cùng khóa với vài tướng lãnh thời kỳ đó chỉ huy những đoàn quân tinh nhuệ của Quân Đội VNCH như tướng Ngô Quang Trưởng, Lê Quang Lưỡng… Thật ra suốt thời kỳ ở trong quân đội, anh vẫn phản đối chuyện “đảo chánh” như anh đã viết trong truyện dài Chân Trời Tím vào năm 1963 là anh không muốn thấy cảnh “quân ta bắn quân mình”. Ai thắng thì cũng quân đội cũng thiệt thòi và anh đã nhận định rõ ràng trong đoạn kết của truyện dài đó là “Quân đội không phản bội ai cả, chỉ có người ta lợi dụng quân đội thôi”.

Vì vậy, dù suốt thời kỳ đó xảy ra vài cuộc đảo chánh, anh quen biết khá nhiều anh em tham gia và anh trả lời rõ ràng: “Tôi không tham dự”. Nhưng sau khi đảo chánh xong, họ thường nhờ anh “coi giùm mấy Đài Phát Thanh và Truyền Hình dân sự”. Khi cụ Trần Văn Hương mới lên làm Thủ Tướng, cụ nhờ quân đội coi luôn cả việc kiểm duyệt báo chí. Anh cử sĩ quan sang trông coi thời kỳ đầu chứ tuyệt đối anh không sang. Tuy nhiên anh vẫn chịu tránh nhiệm. Em có quen biết Thiên Hà, anh ấy viết là một cuốn sách của anh ấy xuất bản do chính anh ký tên là vì lẽ đó chứ anh có làm việc ở Bộ Thông Tin bao giờ đâu.

Anh nói để em biết quan niệm dứt khoát của anh nên dù qua bao cuộc “chính biến” tại miền Nam VN, anh vẫn chỉ ở lại Phòng Báo Chí và sau đó là Đài Phát Thanh Quân Đội. Bởi đó là nghề chuyên môn và cũng là chỉ số chuyên môn của anh. Tài sức của anh chỉ làm được vài công việc đó thôi, sang bên “Hành Chánh”, chắc anh không làm nổi.

Nhưng vào những ngày tháng 4-75, anh đi Đài Loan, về đến Hồng Kông là anh biết rõ tình hình rồi và về Đài Phát Thanh hàng ngày nhận tin tức, anh biết “tình hình nguy cấp lắm”, ông bạn đồng minh nhất định không viện trợ và tháo chạy. Nói thật anh cũng tính đường chuồn, viên cố vấn của Đài liên lạc thường xuyên với anh, ông ta cũng chuẩn bị cho anh “ra đi”, anh cũng đề nghị sắp xếp cho toàn thể anh em của Đài đi cùng. Nhưng rồi người đứng đầu chủ trương đảo chánh mời anh tới nhà và bày tỏ ý định phải “cứu đất nước”, làm được cái gì bây giờ phải làm thôi. Anh cũng nghĩ thế nên đồng ý giúp ông ấy một tay. Trước hết là liên lạc với ông tư lệnh Sư Đoàn Thủy Quân Lục Chiến và xem tình hình các đơn vị khác, tinh thần anh em thế nào. Giữ vững chương trình các Đài PT và Truyền Hình hoạt động theo đường lối “đảo chánh”. Đó là nhiệm vụ của anh. Kế hoạch được vạch ra khá chu đáo. Anh không thể kể hết ở đây. Anh nghĩ nếu làm được như vậy may ra tình hình có thể thay đổi, cứ để ông bạn đồng minh xen vào trong khi ông ấy muốn bỏ cuộc thì chỉ có nước chết. Với tất cả những gì còn lại, nếu giữ được vùng 4 trong một khoảng thời gian thì hy vọng sẽ có người khác giúp về mặt này mặt khác, có thể sẽ có một cuộc thương thuyết, may ra ông bạn đồng minh có thể thay đổi thái độ. Có lẽ ý nghĩ của anh lúc đó là “ngu xuẩn” chăng? Bởi chưa biết rõ bộ mặt thật của Kissinger và Nixon.

Anh nghĩ tới việc quân đội Nam Hàn rút lui tới Pusan rồi cũng chiếm lại phần đất đã mất, chỉnh đốn lại hàng ngũ và vẫn chiến đấu được, họ còn mạnh cho tới ngày nay. So sánh về tinh thần thì Quân Đội VNCH cũng mạnh như hoặc hơn Hàn Quốc vào thời kỳ đó.

Nhưng “cú lừa ngoạn mục” của anh Trung Tướng của tòa Đại Sứ Mỹ tại VN đã khiến người đứng đầu cuộc đảo chánh buông tay làm nhiều anh em chết dở sống dở. Anh và một số anh em khác không “di tản” được cũng vì chuyện này. Mặc dù có nhiều chỗ để đi. Ngay cả anh Hà Huyền Chi và anh Phạm Bá Cát có sẵn chỗ đi rồi, gọi cho anh để đi, nhưng anh kẹt vào chuyện “đảo chánh” nên đành chịu. Vả lại nếu anh bỏ đi sớm 1 ngày thì ai sẽ làm nhiệm vụ ở Đài PT QĐ. Mấy ông phụ tá của anh đi hết rồi. Chẳng lẽ để nó ngưng phát thanh nửa đời cửa đoạn sao? Anh phải ở lại đến phút chót, khi đài phát tuyến Quán Tre bị chiếm, Đài QĐ không lên sóng được nữa.

Sau cùng, anh trả lời LC là anh sẽ không bao giờ viết lại cuộc “đảo chánh hụt” và … vô duyên này nữa. Anh nghĩ nói như thế cũng đủ rồi.

VQ

**************************

Fwd: FW: Ý kiến tiếp theo của Cựu CT AZ, sau bài Văn Quang, có âm mưu đảo chánh năm 1975 không

Thưa quý vị

Tôi không hứng thú gì với trận chiến đã qua. Người nào trong cuộc cũng nói phần phải về mình. Người kể lại cũng nói theo cái mình biết, mình nhớ. Cái họ biết, họ nhớ, thì phần lớn sẽ rơi vào tình trạng anh mù sờ voi.

Ai là người có đủ khả năng để tổng hợp, double check, thậm chí multicheck để dữ kiện lịch sử được coi là xác thực nhất?

Chỉ vì đọc bài của Cựu Trung Tá Giám Đốc ĐÀI PHÁT THANH Quân Đội, nhà văn Văn Quang, có đề cập đến trong một bài viết của ông [1] mà tôi chú ý chi tiết âm mưu đảo chánh năm 1975.

Ai cũng biết có âm mưu này nhưng để chính thức nhìn nhận thì chưa ai. Trừ Văn Quang, của 2014, sau cái chết của Tướng Bùi Thế Lân, hé đôi chút. Tiếng nói của Văn Quang có "trọng lượng" chỉ vì ông là giám đốc Đài Phát Thanh Quân Đội. Một vị cựu giám đốc đài phát thanh mà bị kẹt và đi tù cộng sản thì phải có nguyên uỷ.Cũng vị này, sau đó từ chối đi Mỹ trong chương trình đoàn tụ gia đình hay cả cái gọi là (H.O), cũng phải có nguyên uỷ. Nguyên uỷ ấy, dính líu đến cái gọi là âm mưu đảo chánh Thiệu. Dính líu đến cả cái gọi là "người bạn đồng minh".

Tôi liên lạc mail, thậm chí gọi về Sài Gòn gặp Văn Quang nữa. VQ nói rằng đã viết thư trả lời cho HLC rồi. Lúc đó tôi chưa đọc thư VQ, tôi ngỡ VQ kể nhiều chi tiết hay ho hơn. Không ngờ VQ …cũng nhát, hay nói đúng hơn VQ không thích gây ra một tranh cãi vô ích giữa phe ta-phe mình. Do đó VQ chỉ nói thoáng qua và “close” vấn đề. Tôi tôn trọng suy nghĩ của Văn Quang.

Khi giới thiệu thư trả lời HLC của VQ, tôi viết thoáng: tinh thần VNCH cũng mạnh không thua gì Triều Tiên. Còn đương nhiên bối cảnh phải khác nhau. Ai mà không biết. Tôi đâu có ý nói nếu đảo chánh thành công thì VNCH sẽ tồn tại đâu? Thân phận một nước nhỏ, tuỳ thuộc nước lớn, tôi nhận thức rõ cơ mà. Tôi đã viết: biết đâu sẽ có giải pháp trung lập và như thế sẽ không có một Việt Nam như ngày nay và sẽ không nhiều thảm cảnh do cộng sản gây ra cho dân tộc sau 1975.

Tôi không đi sâu vào cái gì cả. Với tôi là vô bổ. Nhưng ông Nguyễn Ngọc Anh, cựu chủ tịch Tổ Chức Cộng Đồng Arizona, mới gửi mail này.

Tôi gửi ra như một tiếng nói phụ thêm và như Văn Quang, cá nhân Hoàng Lan Chi không thích đào bới về vấn đề này nữa. Những quân nhân nào muốn ra đi vào tháng 3, 4/1975 và những quân nhân nào "cố chiến đấu vào giây phút cuối” cho dù lịch sử chưa tỏ nhưng ít nhất, đối diện với lương tâm, mỗi người tự biết.

Xin đóng vấn đề tại đây. Hoàng Lan Chi xin quay về với những đề tài văn học nghệ thuật.

Hoàng Lan Chi

***********************************************************

From: Nguyễn Ngọc Anh

"Cái nghịch lý là quân đội VNCH chẳng những đã không bắt con tin mà lại còn giúp cho "những người bạn trung thực nhất của Việt Nam (theo lời Đại sứ Martin) được ra đi cho an toàn.""

Lan Chi thân,

Nếu ông Kỳ là người chủ mưu làm đảo chánh thì cũng không có gì là lạ. Ông ấy là người bốc đồng, "hữu dõng vô mưu", không biết lượng sức và không nắm vững tình hình quân sự, chính trị. Bằng chứng là sau khi BMT thất thủ, ông ấy yêu cầu TT Thiệu cấp cho ông ấy mấy chục chiến xa và ông ấy sẽ ngồi trong chiếc dẫn đầu để đi tái chiếm BMT!

Còn về việc em tiếc là cuộc đảo chánh đã không xảy ra, "phải chi thành công thì vn cũng đỡ khổ" cũng chỉ là wishful thinking thôi. Lý do là vì tình hình chính trị và quân sự ở Miền Nam VN vào tháng 4 năm 1975 khác xa với tình hình ở Nam Hàn vào các năm 1950-1953. Lúc đó Hoa Kỳ còn quyết tâm trong chiến lược "be bờ" (containment) cho nên bằng mọi giá họ phải chận đứng Trung Cộng. Hơn nữa, dù lúc đó quân đội Nam Hàn đang bị thua trận phải rút lui về phía nam, nhưng họ không bị bao vây, cô lập và không ở trong tình trạng hoang mang, tuyệt vọng như QLVNCH. Chính phủ của họ còn quyết tâm và các vị chỉ huy cao cấp trong quân đội không bỏ quân để thoát thân. Yếu tố quan trọng hơn nữa là người Mỹ vẫn còn sánh cánh chiến đấu với họ. Trong khi đó tình hình ở Miền Nam VN vào tháng 4 năm 1975 hoàn toàn khác. Chính phủ thay đổi liên tục, các cấp chỉ huy ở bộ TTM thì hoang mang, các đơn vị mệt mõi vì phải chiến đấu liên tục lại không được tiếp tế dầy đủ. Vũ khí hư hại không được thay thế; dự trữ bom đạn chỉ còn đủ cho một tháng (trước khi kho đạn Long Bình và Thành Tuy Hạ bị cs phá). Ngay cả khi không có đảo chánh thì QLVNCH phòng thủ Sai Gòn đã phải ở trong thế 1 chọi 3 (5 sư đoàn VNCH vs 15, 16 sư đoàn csbv). Sau đây là cán cân lực lượng trong nhữn ngày cuối tháng 4, 1975:

“Để giữ Sài Gòn, quân đội Nam Việt Nam có khoảng 60.000 quân chính quy, 40.000 Địa Phương Quân cộng với 20.000 Nghĩa Quân, và 5.000 cảnh sát, tổng cộng 125.000 quân….” trong khi đó, “CSBV đưa đến các cửa ngỏ của Sài Gòn năm quân đoàn, gồm mười bốn sư đoàn và mười trung đoàn và lữ đoàn biệt lập khác – không kể các đơn vị đặc công khác nhau của Mặt Trận B-2. Ngoài ra, còn có thêm hai sư đoàn khác hoạt động gần đó. Trong khi Quân Lực VNCH chỉ có thể qui tụ được 110.000 quân để bảo vệ Sài Gòn, toàn thể lực lượng chiến đấu của QĐCSBV, theo con số của họ đưa ra, “có 270.000 quân (250.000 quân chủ lực và 20.000 quân địa phương) và 180.000 quân hậu cần cấp chiến dịch và chiến lược.”6 Nếu con số nầy là đúng, thì cùng với các lực lượng địa phương khác trong trận tấn công vào Sài Gòn, QĐCSBV có nhiều quân ở Nam Việt Nam – gần 550.000 – hơn cả con số khoảng 543.000 quân mà Hoa Kỳ đã có vào cao điểm của sự tham chiến của họ.” (Tháng Tư Đen – NNA)

Xem thế, nếu xảy ra đảo chánh thì em thử nghĩ xem QLVNCH còn bị thất thế đến đâu nữa?

Riêng về ý định “bắt con tin” thì người Mỹ họ cũng đã biết, và họ (Đại sứ Martin) đã tìm cách hóa giải, với sự hợp tác các tướng Nguyễn Khắc Bình, Lê Quang Lưỡng và Bùi Thế Lân. Đó là lý do đưa dến sự “phản bội” vào giờ chót như ông Văn Quang nói:

“Một điểm lịch sử quan trọng khác nữa là việc đại sứ Martin đã cực lực phản đối kế hoạch của Washington định đưa Thủy Quân Lục Chiến Mỹ vào Sàigòn để di tản người Mỹ. Như chúng tôi đã đề cập trong cuốn KĐMTC, đây là một kế hoạch hết sức nguy hiểm vì binh sĩ Mỹ sẽ phải bắn nhau với quân đội VNCH để tìm lối thoát, và gây đại họa. Yếu tố nào đã giúp ông Martin thuyết phục được Washington bỏ ý định về cái mà ông gọi là "kế hoạch điên rồ" (crazy plan)?

Dù cho tới nay, ít ai hay biết, nhưng chính những đơn vị quân đội VNCH trấn đóng ở Vũng Tàu vào những ngày giờ cuối cùng đã phần nào giúp đại sứ Martin trong việc này. Ông đã sắp xếp, vận động để có một số đơn vị Dù và TQLC tới trấn đóng ở Vũng Tàu giúp giữ một cửa biển, một lối thoát cho người Mỹ. Vì đã có quân đội VNCH rồi, nên ông trình bày với Washington là khỏi cần phải đưa binh sĩ Mỹ vào nữa. Trong công điện gửi Ngoại trưởng Kissinger đề ngày 17 tháng 4, ông Đại sứ viết (ghi chữ đậm là do tác giả):

"Tôi đã có kế hoạch dùng mấy đơn vị thiện chiến của Sư Đoàn Dù và TQLC Việt Nam để họ bảo đảm an ninh cho cuộc di tản người Mỹ từ Sàigòn; những đơn vị này sẽ đồn trú tại Vũng Tầu và những điểm cần thiết để tầu (di tản) cập bến. Như vậy sẽ giảm thiểu được nhu cầu phải mang quân đội TQLC Mỹ vào, trừ một số để bảo vệ trên tầu và lên bờ trợ giúp đoàn người xuống tầu.

Ông giải thích là trước đó trong những công điện gửi cho Bộ Ngoại giao và Bộ Quốc Phòng, ông không nói tới việc này là vì:

"Điều mà tôi đã không ghi ở trong công điện gửi Bộ Ngoại giao cũng như Bộ Quốc Phòng vì tôi vô cùng e ngại rằng tin này sẽ được in trên trang nhất cuả tờ New York Times và Washington Post ngay ngày hôm sau…"

Ai là người đã giúp ông Martin vận động việc điều quân này? Ông Martin viết:

"Hôm nay tôi đã cho di tản một cách bất hợp pháp, bà vợ của một viên chức tình báo cao cấp. Ông ta sẽ không bao giờ ra đi, nhưng như vậy ta luôn có thông tin đầy đủ, và chính ông ta cũng đã dùng ảnh hưởng lớn của mình can thiệp với tư lệnh một vài đơn vị quân đội trong số những đơn vị mạnh mẽ nhất để giúp cho ‘những người bạn trung thực nhất’ của Việt Nam ra đi cho an toàn."

Như vậy, người đó là Tướng Tổng Giám đốc Trung ương Tình báo VNCH. Để đáp lại, thì đối với những đơn vị này, ông Martin nhất quyết là sẽ mang gia đình họ đi dù không có phép của Tổng thống. Ông sẽ lĩnh nhận hết trách nhiệm nên nếu có gì trục trặc thì cứ việc đổ lỗi cho ông. Mật điện gửi Tướng Scowcroft đề ngày ngày 16 tháng 4 như sau:

"Nếu tôi phải mang những người lính (Dù và TQLC) này cùng gia đình họ đi, tôi sẽ làm như vậy và sẽ trả lời sau về việc này. Tôi không xin phép ông đâu, để khỏi làm phiền lụy tới Tòa Bạch Ôc quá sớm. Và ông cũng không cần nói tới chuyện này khi ông trả lời cho tôi. Tuy nhiên, tôi muốn cả ông, Henry (Kissinger) và Tổng thống đều biết việc này.

"Nếu như có gì trục trặc xảy ra thì ông có thể tách các ông rời ra khỏi tôi, và cứ đổ là tôi đã hành động khi không có phép, nếu ông muốn. Nhưng đây là cách tốt nhất để có thể rút ra khỏi đây mà không phải dùng quân lực Mỹ đánh nhau với đồng minh trước đây của chúng ta, hoặc sát hại những người thường dân Việt Nam."

Cuối cùng ông Martin đã giữ lời hứa là di tản một số thân nhân của TQLC, tất cả là 250 người từ Vũng Tầu. Ngày 26 tháng 4, ông gửi công điện sau:

Đại sứ Martin gửi Tư lệnh Thái Bình Dương CINCPAC:

"Tôi đã xem xét rất kỹ đề nghị của tướng Smith chính thức gửi tới ông là được dùng 2 chiếc C-130 để chuyên chở 250 thân nhân của TQLC ra đi từ Vũng Tầu vào ngày 27 tháng 4.

"Tôi đã chấp thuận kế hoạch này và muốn được thi hành cho hết sức chính xác. Đây là một yêu cầu cá nhân của tướng Lân, Tư lệnh sư đoàn TQLC. Ông ta hoàn toàn kiểm soát được phi trường Vũng Tầu…

"Vì không có mặt của Không Quân VN ở phi trường và người di tản cũng chưa kéo tới phi trường, nên tướng Lân hoàn toàn bảo đảm an toàn cho công việc này.

"Cũng có yếu tố chính trị rất quan trọng nữa đòi hỏi phải hành động cho thật hoàn hảo, chính xác và cho nhanh: đây là một tiền lệ, một thử nghiệm về việc dùng Vũng Tầu trong tương lai (để di tản) nếu tôi cảm thấy yên tâm rằng tướng Lân có thể cung cấp cho ta sự bảo vệ cần thiết…"
Martin.

Cuối cùng, quân đội VNCH đã đóng góp không nhỏ vào thời điểm chót: vì đã chiến đấu dũng cảm ở Xuân Lộc nên mua thêm cho mọi người được 10 ngày quý giá. Giữ được cửa khẩu Vũng Tầu còn giúp cho ĐS Martin tránh được đại họa. Và tất cả đã giữ được ổn định, giúp cho đoàn người di cư đầu tiên có thể ra đi.

Cái nghịch lý là quân đội VNCH chẳng những đã không bắt con tin mà lại còn giúp cho "những người bạn trung thực nhất của Việt Nam (theo lời Đại sứ Martin) được ra đi cho an toàn." (Nguyễn Tiến Hưng, Chuyện 35 Năm Trước: Trận Xuân Lộc Mùa Xuân Cuối )

Nguyễn Ngọc Anh

********************************************

[1] Trích “Tưởng nhớ Tướng Bùi Thế Lân” của Văn Quang

BÀI NHẬN ĐỊNH

Về câu:” Nếu các ông làm người dân thiệt hại nặng nề, thành phố tan hoang, sẽ mang tội với lịch sử. Chi bằng các ông cứ đợi đó, bất chiến tự nhiên thành”.

Tin đồn có âm mưu đảo chánh vào tháng 4 năm 1975 báo chí Sài Gòn ngày đó đều có nói đến, nhưng tới ngày hôm nay gần 40 năm sau, hầu như là chưa ai đã nhắc lại sự kiện này, có lẽ vì mới chỉ là âm mưu nên không mấy ai quan tâm tới, ngày nay nhân Tướng Bùi Thế Lân vừa qua đời, nhà văn Văn Quang đã nói đến lý do âm mưu đảo chánh này đã không thực hiện được vì như ông đã nói là: “Nhưng rồi một ông Trung tướng Mỹ của tòa Đại Sứ Mỹ ở Sài Gòn vào thuyết phục người đứng đầu cuộc đảo chính rằng Các ông không cần đảo chánh, nếu Tổng Thống Thiệu ra đi, chỉ còn các ông chứ ai nữa. Nếu các ông làm người dân thiệt hại nặng nề, thành phố tan hoang, sẽ mang tội với lịch sử. Chi bằng các ông cứ đợi đó, bất chiến tự nhiên thành”. Cú lừa ngoạn mục này đã khiến người đứng đầu đảo chánh dễ dàng buông tay.”

Âm mưu đảo chính không thành này thì không có gì để chúng ta bàn tới, nhưng việc người đứng đầu đảo chánh từ bỏ âm mưu vì câu nói của vị Trung Tướng Mỹ là điều chúng ta cần phải tìm hiểu, vì sự việc này chưa có một ai tiết lộ ra cả, kể cả các tài liệu của Hoa Kỳ đã giải mật.

Câu nói của vị Trung Tướng Mỹ có thể nói là một câu tóm gọn hé lộ chiến lược của Hoa Kỳ tham chiến tại Việt Nam, mà người đứng đầu đảo chánh đã được cho biết rõ ràng lợi và hại hậu quả của cuộc đảo chính.

Từ bỏ cuộc đảo chính không phải là vì bị lừa như nhà văn Văn Quang đã nói, mà người đứng đầu đảo chánh đã cân nhắc lợi hại và đã giúp cho kế hoạch của Hoa Kỳ được thực hiện xuông xẻ, nếu không thì những ai là trở ngại cho kế hoạch của Hoa Kỳ này đều phải chết như đã từng xẩy ra.

Theo như lời Trung Tướng Mỹ nói thì phải hiểu là người đứng đầu đảo chánh đã có công với lịch sử vì không làm người dân thiệt hại nặng nề, không làm thành phố tan hoang, và đó cũng là công của cả quân lực Việt Nam Cộng Hòa, một quân lực hùng hậu ,thiện chiến trong 20 năm đã ra sức xây dựng và bảo vệ một nước non trẻ Việt Nam Cộng Hòa đã phải buông súng bàn giao theo như kế hoạch đã định, vậy thì tất cả những người có công đều phải được vinh danh.

Gần 40 năm đã qua, Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa đã không được vinh danh mà lại còn bị sỉ nhục với thế giới, tại sao lại như vậy? Kế hoạch của Hoa Kỳ tới năm 1975 tại Việt Nam đã được thực hiện thành công tốt đẹp, được như vậy cũng phải kể đến toàn bộ quân lực Hoa Kỳ đã tham chiến tại Việt Nam cũng phải được vinh danh, nhưng tại sao tới nay vẫn còn có sự đối xử bất công với người lính Hoa Kỳ đã tham chiến tại Việt Nam.

Trích một bản tin như sau :Hoa Thịnh Đốn Ngày 27 tháng 5, 2013 nhân dân Mỹ đã vinh danh những người đã hy sinh cho đất nước nhân Lễ Chiến sĩ Trận vong…..

……Gần cuối ngày thứ Hai, Tổng thống Obama đi thăm Đài Kỷ niệm Cựu Chiến binh Việt Nam. Tại đây ông nói các cựu chiến binh chiến tranh Việt Nam đã không được ghi ơn. Ông gọi đây là một điều “hổ thẹn” vì một số cựu chiến binh bị “bôi nhọ” khi từ chiến trường trở về.

Ông nói việc này đáng lẽ không bao giờ xảy ra và ông quyết tâm là việc này sẽ không xảy ra nữa. Tổng thống Obama nói cũng vì chiến tranh Việt Nam và các cựu chiến binh của cuộc chiến này, Hoa Kỳ sử dụng quân đội khôn ngoan hơn và ghi công các cựu chiến binh xứng đáng hơn.

Tòa Bạch Ốc cho biết đang bắt đầumột chương trình 13 năm để vinh danhnhững ai từng phục vụ trong cuộc chiếnViệt Nam…..(hết trích bản tin)

Tại sao phải để đến 13 năm sau mà không phải là năm tháng sắp tới đây, có lẽ đó chính là thời điểm bất chiến tự nhiên thành đã tới, lúc mà đại kế hoạch chiến lược của Hoa Kỳ đã hoàn tất, mà cuộc chiến tranh tại Việt Nam chỉ là một phần. Hiện nay thì thấy rằng thời điểm bất chiến tự nhiên thành một phầnđang sắp xẩy ra ở Việt Nam ,chúng ta để ý thời gian các biến cố xẩy ra thường lâu dài vài chục năm như 20 năm, 40 chục năm và có cả 100 năm mà kế hoạch của Hoa Kỳ đã thực hện, tại Việt Nam tính cứ mỗi 20 năm kể từ:

1955 là năm Việt Nam bị chia ra làm hai miền Nam Bắc.

20 năm chủ nghĩa Cộng sản tại miền Bắc Việt Nam

20 năm xây dựng Việt Nam Cộng Hòa tại Miền Nam Việt Nam

1975 Cộng sản Bắc việt xâm chiếm toàn Miền Nam Việt Nam

1995 Hoa Kỳ bang giao toàn phần với Cộng sản Việt Nam

Vậy thời điểm 20 năm tiếp theo là 2015 việc gì sẽ xẩy ra, có lẽ đó sẽ là bất chiến tự nhiên thành vậy, mà những dấu hiệu gần đây đã cho thấy.

Ngày 16 tháng 3 năm 2014.

Như Phạm

Advertisements
This entry was posted in 1975. Bookmark the permalink.