TƯỚNG NGUYỄN VĂN CHỨC VÀ BOM CBU.

Các đoạn trích của bài này sau đây là những điều cần để chúng ta suy ngẫm :

……….DPP: Có phải ông đã cho thả bom CBU để phản công Việt Cộng chiếm 3 quận thuộc bắc Bình Định?

NVC: Sau khi nhận chức Tỉnh Trưởng, tôi đến thăm Căn Cứ Không Quân Phù Cát do Đại Tá Không Quân Nguyễn Hồng Tuyền chỉ huy. Ông là một trong những người bạn thân của tôi và cùng học Tai Chi ở Cần Thơ. Đại Tá Tuyền đưa tôi đi thăm căn cứ và cho tôi xem một kho chứa 60 quả bom lọai đặc biệt. Nhìn thấy tôi biết ngay là lọai bom nhẹ, khi nổ ra tạo một vòng sát hại trực kính 1500 thước, đốt hết dưỡng khí trên mặt đất, xuống đến các hầm hố, hang động, không làm nguy hại nhà cửa và cây cối…….

……… Tháng Sáu năm 1975 tôi đến Mỹ và tháng 11 năm 1975 tôi được ông bạn Mỹ, mời tôi lên thăm thủ đô Hoa Thịnh Đốn. Tôi được ông tiếp đón và mời về nhà dùng cơm tối. Sau bửa cơm, ông và tôi ra sau nhà ngồi uống trà, ông buộc miệng hỏi tôi: “60 quả bom đặc biệt chúng tôi để lại Phù Cát sao các ông không dùng đến để tiêu diệt Cộng Sản trong Nam và tòan bộ miền Bắc vào đầu năm 1975 mà lại chịu thua bỏ chạy như thế này?”…….

….. Đại Tá Tuyền đến chổ hẹn gặp ông Thiệu. Ông Thiệu có hỏi Đại Tá Tuyền về số vũ khí đặc biệt dự trữ trong kho bom phi trường Phù Cát từ năm 1972 đến 30/04/1975. Đại Tá Tuyền nói rằng số vũ khí đặc biệt đó đã được ông ta báo cáo hàng tháng về BTL Sư Đòan 2 Không Quân, Phòng Tiếp Vận Quân Đòan II, Phòng Tiếp Vận BTL Không Quân, Tổng Cục Tiếp Vận Bộ Tổng Tham Mưu. Nếu Tổng Thống và các nơi nhận báo cáo không biết trong tay mình có vũ khí mạnh mẽ thì đây là số Trời…Ông Thiệu bật lên tiếng nấc nghẹn ngào…”Đúng vậy! Quả là số Trời”……
…….3. Trong trận chiến biên giới Việt Hoa năm 1979, theo một sĩ quan VC từ miền Bắc vào thăm thân nhân tại Sàigòn, thì nhờ 2 trái bom CBU thả xuống làm chết mấy chục nghìn binh sĩ Trung Cộng nên Trung Cộng thua và phải rút binh.

4. Cách đây mấy năm, báo News Week của Mỹ có viết một bài nói về 28 nghìn ngôi mộ binh lính Trung Cộng chôn tại Quảng Ðông, mà trên mộ phần không ghi tên,, ngày và lý do chết.. theo lời của người ký giả Mỹ đã đến tận nơi quan sát và về viết lại như vậy.

5. Nguồn tin VC dùng 2 trái bom CBU của Mỹ cố tình để lại cho VC năm 1975 để đánh Trung Cộng năm 1979 là chính xác vì phù hợp với chuyện 28 nghìn quân Trung Cộng chết chôn tại Quảng Ðông mà không ghi rõ xuất xứ……..

…….Vị Đại sứ Nga báo cho Tướng CS tại Bộ Quốc Phòng Hà Nội biết là phi trường Phù Cát cũ của Không Lực VNCH còn dự trữ 55 quả bom đặc biệt, có thể dùng để tiêu diệt Chiến xa và quân Trung quốc. Phải dùng lọai khu trục phản lực A-37 của Không Quân VNCH mới ném lọai bom này được. CS Hà Nội ra lệnh thả ra khỏi các trại Cãi Tạo một số lớn Phi Công A-37 và các chuyên viên bảo trì, sau đó CS tập trung 40 khu trục cơ A-37 còn bay được từ miền Nam ra miền Bắc và chuyên chở 55 quả bom đặc biệt ấy theo….. Hết trích.

*************

PHỎNG VẤN CHUẨN TƯỚNG NGUYỄN VĂN CHỨC

TAKE 2 TANGO – 3/4/2010 11:09:48 AM

Đặng Phú Phong

Đặng Phú Phong (DPP): Kính chào Chuẩn Tướng Nguyễn Văn Chức , trước khi vào chuyện xin ông vui lòng giới thiệu tiểu sử. Cũng xin thưa Chuẩn Tướng, sắp tới đây xin cho phép tôi được gọi Chuẩn Tướng bằng ông để nhẹ bớt không khí của câu chuyện.

Chuẩn Tướng Nguyễn Văn Chức (NVC): Vâng, anh cứ tự nhiên. Tôi tốt nghiệp khóa II trường Võ Bị Địa Phương Nam Việt năm 1950 với cấp bậc Chuẩn úy và chuyển sang quân đội Liên Hiệp Pháp, phục vụ ngành Công Binh. Tôi du học ở trường Công Binh Pháp tại thành phố Anger (Maine et Loire). Trở về Việt Nam, tôi được trả về Quân Đội Việt Nam và thuyên chuyển đến trường Công Binh Việt Nam tọa lạc tại Bình Dương với chức vụ Giảng viên.

Sau đó, tôi thuyên chuyển ra các đơn vị Công Binh Quân Lực VNCH, giữ chức vụ từ Tiểu Đoàn Truởng đến Liên Đoàn Trưởng các đơn vị Công Binh Chiến Đấu. Tôi tham dự các quân trường Mỹ, trong đó có trường Tham Mưu Chỉ Huy Cao cấp ở Tiểu Bang Kansas năm 1966. Năm 1970, với cấp bậc Đại Tá, tôi được chỉ định theo học Khóa II, trường Cao Đẳng Quốc Phòng. Sau khi tốt nghiệp, trường giữ tôi lại, đảm nhiệm chức vụ Trưởng Khoa. Tháng 12, 1971, Tổng Thống VNCH chỉ định tôi ra tỉnh Bình Định giữ chức vụ Tỉnh Trưởng kiêm Tiểu Khu Trưởng, đồng thời Tư Lệnh Hành Quân Sư Đoàn 22 Bộ Binh VN và Sư Đoàn Mãnh Hổ Đại Hàn đồn trú trong tỉnh Bình Định.

DPP: Ông có thể cho biết nguyên nhân về việc ông nhận chức Tỉnh Trưởng Bình Định và lý do nào đã đưa ông rời khỏi chức vụ ?

NVC: Tôi nhận chức vụ Tỉnh trưởng do quyết định của Tổng Thống Nguyễn Văn Thiệu. Ngòai ra, ông John P. Van, Cố Vấn trưởng Quân Đoàn II ở Pleku, đã khuyến khích tôi nên nhận chức vụ này để có cơ hội thăng cấp trong binh nghiệp, đồng thời ngăn chận Tướng Chu Huy Mân và Sư Đoàn 3 Sao Vàng với ý đồ chiếm đóng và chia cắt lãnh thổ miền Nam ra làm hai của Hà nội trong mùa hè đỏ lửa 1972.

Ngày 01 tháng Giêng năm 1972, tôi được Đại Tá Bách bàn giao chức vụ Tỉnh truởng kiêm Tiểu Khu truởng và bắt đầu làm việc ngay. Tôi nhóm họp với các vị công chức, ban Chỉ Huy Tiểu Khu Bình Định và các vị Quận Trưởng kiêm Chi Khu Trưởng. Ngày hôm sau, tôi đi thăm viếng đền thờ Đức Quang Trung Đại Đế tại quận Bình Khê. Sau đó, quân dân cán chính Bình Định đã cùng tôi chen vai sát cánh trong việc phản công Sư Đoàn 3 Sao Vàng. Ba quận miền Bắc tỉnh Bình Định là các quận Tam Quan, Hòai Nhơn và Hòai Ân bị địch chiếm đóng. Sư đoàn Mãnh Hổ Đại Hàn đang tập trung về Phú Tài để chuẩn bị rút quân về Nam Hàn nên chỉ hành quân ngăn chận dọc theo quốc lộ 19. Sư đoàn 22 Bộ Binh VN đồn trú tại cầu Bà Gi và các Trung đoàn trú đóng ở phía bắc Bình Định. Vị Tư Lệnh Sư Đoàn 22 Bộ Binh mang theo một Trung đoàn, trấn đóng ở Tân Cảnh, phía Bắc tỉnh lỵ Kontum. Phần còn lại của Sư đoàn 22 Bộ binh đuợc Đại Tá Tư Lệnh Phó Nguyễn Hữu Vị chỉ huy.

Sau khi Trung tướng Nguyễn Văn Tòan đảm nhiệm chức vụ Tư Lệnh Quân Đoàn II thay thế Trung Tuớng Ngô Du, ông đến thăm tôi và khuyên tôi nên trở về Sài gòn phục vụ ngành Công Binh, công việc đánh nhau với VC không thuộc phần chuyên môn của tôi. Cuối tháng 6/1972, Tổng Thống VNCH ra Bình Định thị sát tình hình chiến truờng, ông có chỉ thị cho tôi một công tác mà tôi không làm được. Ngay tối hôm đó, tôi gửi một công điện về Phủ Tổng Thống xin từ chức Tỉnh Trưởng/Tiểu Khu Trưởng và thông báo cho Bộ Tư Lệnh Quân đoàn II. Sáng ngày 30 tháng 6/1972, tôi bàn giao mọi chức vụ cho Đại Tá Hòang Đình Thọ và trở về Sàgòn, chờ ngày trình diện Bộ Nội Vụ và Bộ Quốc Phòng.

DPP: Tổng Thống Thiệu đã ra lệnh cho ông làm việc gì, và tại sao ông không làm được?

NVC: Rất tiếc là tôi không thể trả lời câu này được

DPP: Có quá nhiều giai thoại về ông khi ông còn đương kim Tỉnh Trưởng Bình Định . Tôi xin nêu ra vài chuyện:

Chuyện thứ nhất : Khi ông mới về nhậm chức một thời gian ngắn (?) thấy đường sá Qui Nhơn hư quá nhiều mà Công chánh không tu bổ, ông bèn mời ông Trưởng Ty Công Chánh cùng ngồi với ông trên chiếc xe jeep đã lấy đi nệm ghế rồi chạy một vòng thành phố .

Chuyện thứ hai : Ông đi thanh tra một quận , ông Quận Trưởng sở tại tổ chức một bữa ăn thịnh soạn để chiêu đãi . Khi ngồi vào bàn tiệc ông điềm nhiên lấy bánh mì và bi đông nước ra để cùng ăn uống với họ.

Chuyện thứ ba Thỉnh thoảng ông mời các trưởng ty hay các quan chức trong tỉnh đến tư dinh của ông dùng cơm. Bữa cơm thật đạm bạc (rau luộc chấm nước mắm ?). Việc này làm cho các trưởng ty kiên dè với ông rất nhiều .

Qua 3 giai thoại tiêu biểu trên, nếu đúng, xin ông cho biết tại sao ông đã làm như thế? Và nếu không đúng, thì theo ông ai và tại sao nguời ta lại thêu dệt như vậy để làm gì?

NVC: 1) Tôi có thảo luận với ông Truởng Ty Công Chánh, ông cho biết là ngân sách quá eo hẹp nên không đủ ngân khỏan sửa chữa đường sá trong tỉnh lỵ. Tôi bèn nhờ Công Binh Sư Đoàn 22 giúp sửa chữa. Tôi không có ác ý bắt ông ngồi xe Jeep không có ghế ngồi như thế.

2) Không có.

3) Tôi vẫn thường mời quý vị Dân Cử, các Nghị Viên Hội Đồng Tỉnh dùng cơm để bàn việc và tìm hiểu nhau. Là một quân nhân, tôi vốn ăn uống đạm bạc nên khi mời dùng cơm tại dinh Tỉnh truởng tôi chỉ dùng tiền lương hàng tháng của tôi để chi cho thức ăn. Khi quí vị Đại Sứ Mỹ, Anh, Úc, Tân Tây Lan đến thăm tỉnh Bình Định, thực đơn bữa cơm trưa gồm có cơm trắng, canh cải xanh nấu với tôm khô, cá cơm kho khô, trứng gà luộc và nuớc tương. Quí vị Đại sứ ăn uống ngon lành, chỉ riêng ông Đại sứ Anh bị ói ra sau khi dùng món cá cơm kho nước mắm. Ông vội vàng xin lỗi quan khách và tôi.

Có lẽ lâu lắm rồi, tỉnh Bình Định chưa có vị tỉnh trưởng nào đi sát với cuộc sống của nhân dân, lại chủ trương sống tiết kiệm nên họ vì quí trọng tôi mà nói ra những việc như thế.

DPP: Trong thời gian ông làm Tỉnh trưởng Bình định( Ngày 01 tháng Giêng năm 1972 tới 30 tháng 6/1972 ), theo ông, trận đánh nào đáng ghi nhớ nhất?

NVC: Tôi bị thua các trận Hòai Ân, Tam Quan và Hòai nhơn( thời gian Mùa Hè Đỏ Lửa tháng 4 năm 1972 ). Đại Tá Đức (tôi quên họ của ông) vì thiếu kinh nghiệm chỉ huy đã không thi hành đúng theo lệnh hành quân nên bị thua địch tại mặt trận Hòai Ân, phải rút về Quốc lộ 1. Địch thừa thắng mở cuộc tấn công mau lẹ, chiếm đuợc hai quận Tam Quan và Bồng Sơn. Sư đoàn 22 Bộ Binh đã ngăn chận kịp thời cuộc tiến quân của địch xuống phía Nam giữ từng tấc đất cho đến ngày tôi rời Bình Định.

Quân Lực VNCH, Địa Phương Quân, Nghĩa Quân và quân Đồng Minh cũng đã chiến thắng Sư Đoàn 3 Việt cộng ở các Chi Khu An Khê, Phù Mỹ, Phù Cát, An Nhơn. Các vụ oanh kích của Không Quân VN từ phi trường Phù Cát đã gây nhiều thiệt hại, đặc biệt nhất là tiêu diệt gần hết thành phần Tham Mưu và Chỉ huy của Sư đoàn 3 Việt Cộng trong lãnh thổ quận Hòai Ân.

DPP: Xin ông vui lòng nói rõ hơn về trận đánh mà VNCH đã mất ba quận thuộc bắc Bình Định. Chẳng hạn như về mặt tình báo (chúng ta đã có tin tình báo trước không? Tướng Nguyễn Hữu Hạnh với vai trò Cố Vấn quân sự đã có ý kiến như thế nào? Qua lần bại trận này ông nghĩ gì về trách nhiệm của mình?

NVC: Chúng tôi đã có tin tức tình báo của Mỹ lẫn VN về ý đồ của VC trong việc tiến đánh quận Hòai Ân trong 5 ngày sắp đến. Lập tức tôi đến Bộ Tư Lệnh Sư Đòan (BTLSĐ) 22 Bộ Binh chỉ thị ngày hôm sau cho trực thăng vận Trung đòan 40 đến chiếm đóng các cao điểm phía Tây và phía Nam Quận Hòai Ân và ra lệnh Chi Khu Trưởng Hòai Ân cho trinh sát bung rộng để tìm tin tức chính xác về việc chuyển quân và hậu cần tiếp vận gần nhất của địch. Trung Đòan Trưởng Trung đòan 40 cũng nhận lệnh cho đơn vị Trinh Sát họat động ra nhiều phía để chuẩn bị chiến trường. Ngòai ra, cuộc hành quân này do (BTLSĐ) 22 trực tiếp điều động và chịu trách nhiệm thẳng với tôi và Bộ Tư Lệnh Quân Đòan II.

Sáng hôm sau, lúc 7 giờ sáng, tôi và cố vấn Mỹ đã có mặt ở Bồng Sơn, nơi tuyến xuất phát. Tôi thấy các quân nhân không mang theo thùng 20 lít chứa nước vì cuộc hành quân này có thể kéo dài nhiều ngày, tôi hỏi Đại Tá Đức, Trung Đòan Trưởng Trung Đòan 40 sao không mang theo nước uống, Đại Tá Đức chỉ vào cây dừa có trái và nói với tôi rằng đó là nước uống của anh em Bộ Binh, cần gì phải mang theo thùng 20 lít. Sau đó, tôi đi thăm Chi Khu Tam Quan và duyệt xét việc phối trí công cuộc phòng thủ. Tôi tăng cường thêm một Tiểu Đòan Địa Phương Quân (TĐĐPQ) giúp Chi Khu này. Lối 5 giờ chiều tôi trở lại Chi Khu Hòai Ân và trước sự ngạc nhiên của tôi và vị cố vấn, các đơn vị của Trung Đòan 40 đang từ đỉnh đồi phía Tây bỏ vị trí kéo xuống dưới ruộng hướng về Chi Khu Hòai Ân và Đại Tá Đức đang đứng nhìn. Một Chi Đội Thiết Vận Xa do Sư Đòan 22 tăng phái có mặt tại đó, máy đang nổ. Khi Trung đòan 40 xuống đến chân đồi và mở rộng đội hình trên thửa ruộng trống hướng về Chi Khu Hòai Ân thì VC đã lên tới đỉnh đồi và bắn xuống đòan quân ta bằng đủ các lọai súng mà chúng có. Đại Tá Đức không có phản ứng gì, tôi bèn bảo Đại Tá Đức cho Chi Đòan Thiết Vận Xa lập tức giải vây cho quân ta, lúc ấy ông ta mới giật mình ra lệnh cho Chi Đòan Trưởng phóng ra tiếp viện. Về đến Chi Khu Hòai Ân, kiểm lại phần tổn thất cũng không nặng lắm. Tôi cùng với Đại Tá Đức và Ban Tham Mưu Trung Đòan cùng cố vấn Mỹ bàn đến việc rút quân ra quốc lộ 1 vào sáng sớm ngày hôm sau. Kế họach rút quân như sau: 7 giờ sáng phi cơ đến thả bom khói bao trùm vùng chuyển quân, 7:30 giờ, phi cơ khu trục đến xạ kích các cao điểm hạ nhửng ổ phục kích của địch và không yễm đường rút quân, 8:00 giờ sáng bắt đầu chuyển quân, với sự tăng viện của một Trung Đòan từ Phù Mỹ tiến quân giữ an ninh phía Nam và phía Bắc cầu Bồng Sơn.

Đúng 6:45 giờ sáng, tôi đến cầu Bồng Sơn bằng trực thăng nhỏ và không liên lạc được với Bộ Chỉ Huy Trung Đòan 40, tôi cho lệnh phi công bay thẳng về hướng Chi Khu Hòai Ân dọc theo bờ sông Bồng Sơn. Nhìn xuống dưới ruộng, tôi thấy Trung Đòan 40 tự chuyển quân ra quốc lộ 1 với Chi Đòan Thiết Vận Xa và đang bị hỏa lực địch bắn xuống từ các cao điểm phía Nam. Phi công trực thăng cho tôi biết có tín hiệu cầu cứu của quân nhân Mỹ dưới một lùm cây phía sau doanh trại Chi Khu Hòai Ân. Tôi bảo nên cứu ngay. Khi trực thăng xuống thấp gần mặt đất, tôi nhìn ra là cố vấn Mỹ, vội đáp xuống cứu 5 cố vấn Mỹ đang mặc quần đùi, trét bùn vào khắp người, tay cầm máy truyền tin nhỏ và vũ khí cá nhân và lập tức bay ra thẳng quốc lộ 1 thả họ xuống chổ phối trí quân của Trung Đòan từ Phù Mỹ đã bố trí xong. Tôi hối thúc phi cơ thả trái khói và các phi cơ khu trục bắn phá các muc tiêu trên cao điểm xung quanh Chi Khu Hòai Ân. Đại Tá Đức bị các cố vấn Trung Đòan 40 phiền trách đả rút quân đi trước, bỏ họ ở lại Hòai Ân. Với trách nhiệm chỉ huy, tôi chỉ định Trung Ta Mễ, Trung Đòan Phó, thay Đại Tá Đức chỉ huy Trung Đòan 40 và báo cáo về BTL Sư Đòan 22 Bộ Binh.

Trung đòan 40 rút về hậu cứ ở Bồng Sơn và chờ tái bổ sung quân số tổn thất. Hôm sau, địch tấn công Chi Khu Tam Quan vào lúc 5 giờ sáng. Sau 3 tiếng đồng hồ giao tranh với tiền pháo hậu xung, địch chiếm được Chi Khu Tam Quan. Tòan bộ Địa Phương Quân và Nghĩa Quân đồng rút về Chi Khu Hòai Nhơn. Sau đó, Sư Đọàn 22 Bộ Binh hành quân tảo thanh các đơn vị VC trên các cao điểm phía Tây Chi Khu Hòai Nhơn, giết được hơn 100 quân địch và tịch thu nhiều vũ khí.

Trong lúc đó, tôi gửi công điện khẩn cho Bộ Tổng Tham Mưu xin tăng cường một Liên Đòan Biệt Động Quân để cùng Sư Đòan 22 Bộ Binh tái chiếm lại 2 quận đã rơi vào tay địch. Đại Tướng Tổng Tham Trưởng cho tôi biết là không còn đơn vị Tổng Trừ Bị nào nữa vì chiến trận đã xẩy ra trên khắp lãnh thổ, tôi phải chờ tình hình lắng dịu mới được có quân tăng viện. Tôi phát họa kế họach tái chiếm Chi Khu Hòai Ân và sau đó là Chi Khu Tam Quan thì gặp sự chống đối mạnh mẽ của Chuẩn tướng Nguyễn Hửu Hạnh, Tư lệnh phó Lãnh Thổ Quân Khu II. Sau này, khi tôi rời chức vụ Tỉnh Trưởng Bình Định trở về Sàigòn, Tướng Nguyễn Hữu Hạnh cũng bị Bộ Tổng Tham Mưu triệu hồi về và cho giãi ngũ. Ba ngày sau, đich tấn công Chi Khu Hòai Nhơn và Trung Đòan 40 Bộ Binh vào sáng sớm với quân số 2 Trung Đòan. Sau 3 tiếng đồng hồ, Trung đòan 40 và Chi Khu Hòai Nhơn thất thủ, một số quân sĩ rút qua sông Bồng Sơn chạy về phía Nam và một số khác tử thủ bị bắt làm tù binh. Cuối cùng, ba quận miền Bắc của tỉnh Bình Định đã rơi vào tay địch…

Trách nhiệm nặng nhất bị mất ba quận miền Bắc tỉnh Bình Định trong mùa hè đỏ lửa năm 1972 vẫn thuộc về tôi, và niềm cay đắng này vẫn còn mãi trong tâm trí tôi.

DPP: Có phải ông đã cho thả bom CBU để phản công Việt Cộng chiếm 3 quận thuộc bắc Bình Định?

NVC: Sau khi nhận chức Tỉnh Trưởng, tôi đến thăm Căn Cứ Không Quân Phù Cát do Đại Tá Không Quân Nguyễn Hồng Tuyền chỉ huy. Ông là một trong những người bạn thân của tôi và cùng học Tai Chi ở Cần Thơ. Đại Tá Tuyền đưa tôi đi thăm căn cứ và cho tôi xem một kho chứa 60 quả bom lọai đặc biệt. Nhìn thấy tôi biết ngay là lọai bom nhẹ, khi nổ ra tạo một vòng sát hại trực kính 1500 thước, đốt hết dưỡng khí trên mặt đất, xuống đến các hầm hố, hang động, không làm nguy hại nhà cửa và cây cối.

Tôi đã xin Đại Tá Tuyền đánh hai mục tiêu. Mục tiêu 1 là đánh vào đòan quân địch đang di chuyển trong rừng, phía Tây-Bắc quận An Khê, giết hơn 300 địch quân. Mục tiêu 2 đánh vào địa điểm lễ ăn mừng chiến thắng của Sư đòan 3 địch cách 10 cây số phía Tây quận Hòai Ân, sát hại hơn 600 bộ đội và Sĩ Quan. Tôi không dám xử dụng lọai bom này trong việc tái chiếm 3 quận miền Bắc vì bom không phân biệt địch và dân, sẽ giết nhiều thường dân vô tội. Sau này Đại Tá Tuyền có xử dụng hai quả bom để đánh vào một trung đòan địch ở Đèo Nhông, giết 2 tiểu đòan địch và một quả phía Tây phi trường sát hại hơn 400 địch quân tiến đến gần sát hàng rào phi trường.

Tất cả chúng ta lưu vong hải ngọai vì miền Nam bị miền Bắc xâm chiếm. Chúng ta bị mất miền Nam vì đồng minh yểm trợ chúng ta theo chính sách nhỏ giọt, miền Bắc được yễm trợ dồi dào của khối Cộng sản quốc tế. Nhưng chung qui, chúng ta mất miền Nam do cơ Trời đã định sẳn, xin quí vị nghe câu chuyện sau đây:

Tháng Sáu năm 1975 tôi đến Mỹ và tháng 11 năm 1975 tôi được ông bạn Mỹ, mời tôi lên thăm thủ đô Hoa Thịnh Đốn. Tôi được ông tiếp đón và mời về nhà dùng cơm tối. Sau bửa cơm, ông và tôi ra sau nhà ngồi uống trà, ông buộc miệng hỏi tôi: “60 quả bom đặc biệt chúng tôi để lại Phù Cát sao các ông không dùng đến để tiêu diệt Cộng Sản trong Nam và tòan bộ miền Bắc vào đầu năm 1975 mà lại chịu thua bỏ chạy như thế này?”.Nghe xong, tôi cho ông ta hay là không biết vì cớ gì mà tôi quên mất không nhớ tới lọai vũ khí đặc biệt này từ lúc tôi rời khỏi Bình Định năm 1972 .

Bốn năm trước ngày ông mất, cựu Tổng Thống Nguyễn Văn Thiệu đã hẹn gặp Đại Tá Không Quân Nguyễn Hồng Tuyền tại San José, Bắc Cali. Ông Dân ( một người bạn của tôi và cũng là bạn của Đại Tá Tuyền) cùng với Đại Tá Tuyền đến chổ hẹn gặp ông Thiệu. Ông Thiệu có hỏi Đại Tá Tuyền về số vũ khí đặc biệt dự trữ trong kho bom phi trường Phù Cát từ năm 1972 đến 30/04/1975. Đại Tá Tuyền nói rằng số vũ khí đặc biệt đó đã được ông ta báo cáo hàng tháng về BTL Sư Đòan 2 Không Quân, Phòng Tiếp Vận Quân Đòan II, Phòng Tiếp Vận BTL Không Quân, Tổng Cục Tiếp Vận Bộ Tổng Tham Mưu. Nếu Tổng Thống và các nơi nhận báo cáo không biết trong tay mình có vũ khí mạnh mẽ thì đây là số Trời…Ông Thiệu bật lên tiếng nấc nghẹn ngào…”Đúng vậy! Quả là số Trời”.

Tháng 10, năm 1978, CS Hà Nội được tin quân Trung Cộng sẽ tấn công vùng thượng du Bắc Việt và có thể tiến quân vào Hà Nội. Tòa Đại sứ Liên Sô tại Hà Nội cho CS Bắc Việt biết Trung Cộng sẽ điều động 2 Quân đòan Thiết Giáp và 2 Quân đòan Bộ Binh từ phía Bắc tràn xuống. Vị Đại sứ Nga báo cho Tướng CS tại Bộ Quốc Phòng Hà Nội biết là phi trường Phù Cát cũ của Không Lực VNCH còn dự trữ 55 quả bom đặc biệt, có thể dùng để tiêu diệt Chiến xa và quân Trung quốc. Phải dùng lọai khu trục phản lực A-37 của Không Quân VNCH mới ném lọai bom này được. CS Hà Nội ra lệnh thả ra khỏi các trại Cãi Tạo một số lớn Phi Công A-37 và các chuyên viên bảo trì, sau đó CS tập trung 40 khu trục cơ A-37 còn bay được từ miền Nam ra miền Bắc và chuyên chở 55 quả bom đặc biệt ấy theo.

Đầu năm 1979, Trung Cộng ồ ạt đổ quân tràn sang Việt Nam, tấn chiếm các Tỉnh cực Bắc của Việt Nam. Đòan Khu Trục Cơ A-37 nầy bay lên không phận Cao Bằng – Lạng Sơn và trong 3 ngày đã tiêu diệt 80 phần trăm chiến xa địch và giết 2 Sư đòan Bộ Binh Trung Cộng. Đặng Tiểu Bình phải mau lẹ ban lệnh rút quân về Tàu. Theo tin tức của Siêu Cường, tỷ lệ thương vong giữa Việt Nam và Trung Cộng là 1/28.

DPP: Sau khi thất trận ông tái phối trí lực lượng và phòng thủ như thế nào để ngăn chận Việt Cộng sẽ tiếp tục tiến công?

NVC: Tôi giao trách nhiệm tái phối trí phòng thủ từ phía Nam cầu Bồng Sơn và mạn sườn phía Tây của hai quận Phù Cát và Phù Mỹ cho Bộ Tư Lệnh Sư Đòan 22 Bộ Binh. Bộ Tổng Tham Mưu và Bộ Tư Lệnh Quân Đòan II chỉ thị tôi trách nhiệm tái phối trí để giữ vững phần lãnh thổ còn lại và chỉ phản công khi có lệnh củ Quân Đòan II. Bộ Chỉ Huy Tiểu Khu và các Chi Khu trách nhiệm thu nhận tàn quân của Địa Phương Quân và Nghĩa Quân, tập trung về Qui Nhơn để tái huấn luyện tinh thần và trang bị vũ khí. Tôi được biết ông Võ Trấp với cương vị Trưởng Đòan Nhân Dân Tự Vệ Tỉnh Bình Định. Ông Võ Trấp là người có khả năng Lãnh Đạo-Chỉ Huy và có tinh thần quốc gia vững chắc. Cơ sở NDTV của ông ở Ghềnh Ráng đủ rộng để trú đóng một Tiểu Đòan nên thay vì đưa tàn quân về Trung Tâm để tái huấn luyện, tôi đặt việc trách nhiệm tái huấn luyện tinh thần cho tàn quân thì ông Vỏ Trấp nhận trách nhiệm thi hành với sự hổ trợ của Bộ Chỉ Huy Tiểu Khu Bình Định. Ông Võ Trấp đã hòan tất nhiệm vụ theo đúng thời gian hạn định. Các tân Tiểu Đòan Địa Phương Quân và các tân Đại Đội Nghĩa Quân được tăng phái ra các Chi Khu để tham gia hệ thống phòng thủ diện địa. Thêm vào đó, hộp thơ Dân Nguyện được đặt ở nhiều ngả tư trên các đại lộ trong thị xã Qui Nhơn và chỉ trong một đêm, ngành An Ninh tỉnh đả bắt được trên một trăm tên VC nằm vùng.

DPP: Xin ông thuật lại việc Việt Cộng(?) đã ném lựu đạn tại sân Vận động Qui Nhơn làm chết nữ giáo sư Yến và một số người bị thương, trong đó có ông?

NVC: Việc nhóm họp tại sân vận động Qui Nhơn vào 6 giờ chiều thứ bảy để huy động giáo chức và học sinh, thân hào nhân sĩ, đại diện các Tôn Giáo để phát động phong trào họat động xã hội, làm sạch sẽ thành phố Qui Nhơn và các quận lỵ trong tỉnh, đồng thời trùng tu các đền thờ, lăng tẩm của các bậc Tiền Nhân có công đức giữ nước và dựng nước trong tỉnh nhà. Buổi họp mặt qui tụ trên hai ngàn người, đa số là các em học sinh đại diện các trường trung học trong tỉnh dưới sự hướng dẫn của các giáo sư, Đòan Hướng Đạo Qui Nhơn…

Sau khi lễ khai mạc chấm dứt, vị đìều hợp viên tuyên đọc chương trình họp và mọi người tán thành các chương trình đề ra. Sau đó tôi quyết định xuống khán đài, vừa duyệt đòan ngũ và chào hỏi các người có trách nhiệm đứng với đòan thể của họ. Tháp tùng với tôi có ông Phó Thị Trưởng, Thiếu Tá Quân Trấn Trưởng, Trung Úy Ba Chánh Văn Phòng Tỉnh Trưởng, một Thượng Sĩ và một Trung Sĩ cận vệ. Khi đến trước đòan Hướng Đạo, một Hướng Đạo sinh mang cây đàn lục huyện cầm bước ra, trao cây đàn cho tôi và yêu cầu tôi cùng đàn và hát với các em một bài hát Dân Tộc. Sau đó tôi trao cây đàn lại cho một Hướng Đạo sinh và có người trao cho tôi một loa phóng thanh, tôi nổi hứng nói liền hai câu: Các thanh niên, thiếu nữ Bình Định nên nhớ rõ lời dạy của Tiền Nhân “Trai Trung không thờ hai Chúa – Gái Chính Chuyên chẳng lấy hai Chồng”. Cả hội trường vỗ tay ầm ĩ. Ngay khi đó, một quả lựu đạn chống biểu tình lọai lớn của Mỹ từ sau ném tới. rớt phía trướ mặt tôi một thước và nổ bùng lên. Tôi bị bất ngờ, thóang ngạc nhiên và vẫn đứng yên tại chổ. Nhìn xung quanh, tôi thấy nhiều người chết và bị thương. Trung Úy Ba trao cho tôi cây gươm Lệnh của Đức Thánh Trần đã rút khỏi bao. Tôi cầm lấy, thủ ngang trước ngực, máu từ trên mặt tôi chảy xuống, thắm đỏ lưởi gươm. Lúc đó, ông Trung Tá Mỹ cố vấn chạy xe Jeep vào, ôm tôi lên xe và đưa thẳng đến bệnh viện Mỹ. Tôi được nhân viên y tế Mỹ cởi quần áo trận ra, tôi mới nhìn thấy áo quần trận của tôi rách bươm vì mãnh lựu đạn. Họ lau rửa, cầm máu ở các vết thương và đưa máy quang tuyến đến chụp hình tôi từ đầu xuống chân. Ba mươi phút sau họ trưng bày các phim chụp được và cho tôi biết là không nguy hại đến tính mệnh. Họ nói đến sáng mai họ sẽ giải phẩu lấy miểng lựu đạn ra. Tôi lập tức yêu cầu họ chuyển tôi về Quân Y Viện QLVNCH tại Qui Nhơn để được các Bác Sĩ Quân Y Việt Nam chăm sóc tôi, đồng thời cám ơn những gì họ đã giúp tôi lúc đầu. Lập tức, họ thông báo cho Quân Y Viện Qui Nhơn. Sáng hôm sau, họ đưa tôi về đó. Ba giờ chiều tôi được đưa vào phòng giãi phẩu, có rất nhiều Y sĩ và y tá. Y sỹ Thiếu tá Minh phụ trách giải phẫu. Ông giải thích cho tôi biết là chỉ giải phẩu một vết thương để quan sát, nếu vết thương thứ nhất không làm độc thì không cần phải giải phẫu phần còn lại vì miểng lựu đạn đã dính chặc vào xương rồi. Sau khi giải phẫu vết thương, Bác sĩ Minh tuyên bố: “Vết thương không làm độc, chúng tôi không cần giải phẫu nữa, Đại Tá có thể dưỡng thương ở đây trong 5 ngày và sẽ xuất viện. Về sau tôi được Phòng Ba Tiểu Khu báo cáo có 4 người lớn bị tử thương, trong đó có giáo sư Yến, 8 người lớn và hơn 40 thanh thiếu nam nữ bị thương.

DPP: Ông vừa nhắc đến cây gươm lệnh của Đức Thánh Trần, Tại sao ông có được cây gươm nầy?Hiện giờ nó ở đâu?

NVC: Đến Qui Nhơn được hai ngày, Trung Tướng Ngô Du Tư Lệnh Quân Đòan II từ Pleiku xuống Qui Nhơn mời tôi đi với ông đến viếng đền thờ Đức Thánh Trần Hưng Đạo trong thị xã. Tôi và Thượng Sĩ Châu lái xe theo Trung Tướng Tư Lệnh đến đền thờ. Trung Tướng Tư Lệnh vào cửa chính diện của Đền Thờ, tôi và Thượng Sĩ Châu vào cửa sau và ngồi ở dảy nhà hậu uống trà. Mười phút sau, có một vị lớn tuổi trong Ban Thờ Tự, xuống gặp tôi và nói to: “Thánh mời Tổng Trấn Bình Định”. Tôi và Thượng Sĩ Châu im lặng. Cụ già trở lên Đền và 5 phút sau lại trở xuống nói: “Thánh mời Nguyễn Văn Chức”. Tôi và Thượng Sĩ Châu cùng đứng lên và theo cụ lên trên Đền.

Tôi thấy Trung Tướng và mọi người đang ngồi ở dãy ghế đối diện với vị đồng cốt Đức Thánh Trần. Tôi được mời ngồi và Thánh nói chuyện với Trung Tướng Tư Lệnh : “Vị này là Tổng Trấn Bình Định, có trách nhiệm lớn với Tỉnh trong việc phòng thủ chống trả cuộc tấn công của địch trong mùa hè này, Trung Tướng phải hổ trợ Tổng Trấn Bình Định”. Nói xong, Thánh truyền lệnh lấy gươm Lệnh. Một cụ già lấy thang gỗ leo thang lên trang thờ phía trên, lấy xuống một thanh gươm dài, bọc trong bao vải màu điều, trao cho Thánh. Thánh đỡ lấy cây gươm, mở bao vải điều lộ ra võ gươm bằng gổ thường. Thánh rút gươm ra khỏi võ, cán gươm màu đen xạm, dài lối ba tấc, lưỡi gươm dài hơn một thước, rĩ sét và lưỡi gươm bị sứt mẻ nhiều chỗ. Thánh gọi lấy chén son và bút tàu rồi vẻ bùa ngoằn ngòeo lên lưỡi gươm. Xong Thánh đứng lên hướng về tôi, tôi đứng dậy. Thánh bảo tôi rằng: “Thanh gươm này đã theo ta trong suốt cuộc đời binh nghiệp, nay ta trao lại cho Tổng Trấn. Hãy nối chí ta, giúp nước khi có nguy biến. Khi nào máu của Tổng Trấn nhuộm lên lưỡi gươm sẽ giúp gươm thiêng này phát triển hết sức mạnh nhiệm mầu của nó. Tôi đưa hai tay ra nhận lưỡi gươm và chuyển sang Thượng Sĩ Châu giữ hộ tôi. Sau đó, Thánh trao đổi vài câu chuyện với Trung Tướng Tư Lệnh và thăng. Tôi ra về lại văn phòng tỉnh, Nữa tiếng sau, các cụ trong Ban Thờ Tự Thánh ở đền thờ mang đến cho tôi một khám thờ khá đẹp, đặt trên lầu hai của dinh tỉnh trưởng và để thanh gươm vào đấy.

Từ đó, mỗi ngày, Thượng Sĩ Châu đến dinh, lấy gươm mang vào lưng và đến văn phòng Tỉnh chờ tôi đi công tác. Trong thời gian ở Bình Định tôi và Thượng Sĩ Châu bị địch bắn rơi trực thăng chỉ huy ba lần nhưng không bị thưong tích gì, chỉ có phi hành đòan Mỹ bị thương nhẹ. Tôi đã thóat ra khỏi nhiều trận phục kích của địch trên núi và đánh kiểu độn thổ dưới chân núi. Thượng Sĩ Châu lúc nào cũng theo sát bão vệ tôi. Ông là một quân nhân kỷ luật, can đảm và trầm tĩnh. Trước khi rời Tỉnh Bình Định trở về Nam, tôi mang thanh gươm đến giao trả lại cho Ban Thờ Tự, các cụ không nhận và bảo rằng Thánh chỉ thị Đại Tá mang theo về nhiệm sở mới. Tôi cám ơn và mang theo về Sàigòn.

Về đến Sàigòn tôi trình diện Tổng Thống và được bổ nhậm vào chức vụ Chỉ Huy Trưởng Công Binh và được thăng cấp Chuẩn Tướng sau đó. Tôi mang cây gươm Thần đến Căn Cứ 40 Công Binh và nhờ một Thiếu Úy cho rèn lại lưỡi gươm, sửa chữa những chổ bị sứt mẽ và làm vỏ gươm mới. Tôi ngồi lại chổ xưởng thép và theo dõi. Vị Thiếu úy lấy cán gươm ra trước, cho vào máy thổi cát chạy lối 5 phút, tắt máy, lấy cán gươm ra, cả tôi và vị Thiếu Úy đều kinh ngạc. Cán gươm màu đen, cho vào máy thổi sạch biến thành một thỏi vàng tròn nặng lối 5 kí lô. Vị Thiếu Úy và hai Hạ Sĩ Quan chuyên môn hòan tất bao gươm và lưỡi gươm trong vòng 2 tiếng đòng hồ. Tôi đưa cán gươm ra cho họ tra vào lưỡi gươm và từ biệt họ, ra về.

Tôi đã chôn cây gươm nầy ở một nơi thuộc Sài Gòn.

DPP: Về mặt dân sự, ông đã làm gì để an dân? Ông có gặp gỡ các thân hào nhân sĩ, các tôn giáo, giới trí thức và dân chúng. Họ có sẵn sàng hợp tác với chính quyền để ngăn chận sự phá rối trị an của thành phần du đảng tại Qui Nhơn lúc bấy giờ?

NVC: Trong quá khứ, tôi đã làm nhiều công tác xây cất Công Binh trong tỉnh Bình Định, Quảng Ngãi và Kontum, Pleiku. Tôi biết rõ người dân Bình Định rất hào hùng và sĩ khí mạnh mẽ. Tôi có một ngân khỏan lớn tại Ty Ngân Khố Qui Nhơn để dùng vào các công tác Dân Sự Vụ và tình báo. Được quân đội Mỹ cấp cho một trực thăng nhỏ dùng vào việc chỉ huy và liên lạc, tôi thường thăm viếng các xã ấp nghèo ở xa quốc lộ 1, giúp tiền bạc để xây cất trường tiểu học, bệnh xá, nhà hộ sinh, xây dựng các đập giữ nước để làm ruộng. Tôi đã trả tiền nợ cho các chủ đất đã bị trưng dụng để xây cất phi trường Phù Cát lúc Trung Tá Trần Đình Vọng làm tỉnh trưởng…

Tại thị xã Qui Nhơn, tôi thường tiếp xúc với vị Đầu Tộc đạo Cao Đài, ông Thái Giáo Hòai, Đại Diện Tổng Liên Đòan Lao Công, ông Mạc Như Tòng và một số nhân sĩ, trí thức để nhờ họ giúp tôi tìm hiểu dân tình. Tôi đã cố gắng thuyết phục các cấp Hành Chánh và Quân Sự trong tỉnh giúp tôi diệt trừ tội ác và tệ nạn tham nhũng. Bộ Tham Mưu Tiểu Khu gíup tôi thiết lập các kế họach bảo vệ an ninh trong thị xã Qui Nhơn, diệt trừ các nhóm băng đảng, trộm cắp và lùng bắt VC nằm vùng. Ông Trưởng Ty Cảnh Sát báo cáo rằng băng đảng của Ba Lực tại Qui Nhơn là khó trị nhất. Tôi mời ông Thái Giáo Hòai dùng cơm tối với tôi và nhờ ông giúp ý kiến cho tôi dẹp băng đảng này. Ông Hòai cho tôi biết là khó mà dẹp được băng đảng bằng súng đạn, mà cần phải đặt vấn đề này qua tinh thần Dân Tộc và lương tri của người Việt Nam Yêu Nước.

Sáng hôm sau, tôi viết thơ, nhờ người Thượng Sĩ của tôi mang đến tận nhà anh Ba Lực và chờ lấy thư phúc đáp của anh Ba. Vài giờ sau anh Thượng Sĩ mang thư của anh Ba hẹn tôi sáu giờ chiều đến nhà anh dùng cơm tối. Đúng sáu giờ tôi đến trước cửa nhà anh Ba Lực. Vừa bước ra khỏi xe Jeep với y phục Xây Dựng Nông Thôn, tôi được anh Ba ra tận xe bắt tay tôi và đưa vào một sân rộng có kê bàn hình chử T và mời ăn cơm có rượu mạnh. Nhìn trong mắt anh Ba Lực, tôi thấy anh là một người có nghị lực và cương quyết.

Lúc vào trong sân, tôi đã thấy dưới gầm bàn có một số súng đạn và lựu đạn nhưng tôi làm như không thấy gị cã. Cơm nước xong, anh em dọn bàn sạch sẽ và mời uống trà.

Lúc bấy giờ anh Ba đứng lên, cám ơn tôi đã đến dùng cơm với anh em và mời tôi phát biểu ý kiến, nói xong anh ngồi xuống. Tôi đứng lên cám ơn anh Ba và anh em đã mời tôi đến tham dự bửa cơm thân mật và tôi xin phép được nói lên cảm nghĩ của tôi vào thời điểm quan trọng này. Tôi phát họa tình hình an ninh tổng quát trong tỉnh và cuộc chiến lớn sẽ xảy ra tại tỉnh Bình Định với Sư Đòan 3 CS ngay trong lãnh thổ tỉnh nhà. Tôi rất mong muốn thị xã Qui Nhơn có được an ninh trật tự để lo đánh nhau với địch ngòai tiền tuyến. Đất nước lâm nguy, tôi xin anh Ba và quí vị giúp nhân dân và tôi giữ được an ninh thị xã bằng cách di chuyển đến nơi khác làm ăn. Xin cám ơn anh Ba và quí vị. Tôi ngồi xuống. Mọi người giữ im lặng. Anh Ba đứng lên với lời lẽ mạnh: “ Tôi nghỉ rằng Đại Tá nói đúng. Tình hình rất nguy ngập. Ngay đêm nay tôi sẽ giúp anh em mỗi người một số tiền và chúng ta sẽ rời Qui Nhơn, sống cuộc đời bình thường”. Mọi người vỗ tay tán thưởng. Tôi và anh Ba cùng đứng lên, tôi bắt tay anh Ba và chào từ biệt mọi người. Anh Ba tiển tôi ra tận xe.

DPP: Tại sao việc chính phủ lấy đất của dân để xây dựng phi trường Phù Cát từ thời Tỉnh trưởng Trần Đình Vọng mà đến khi ông về trấn nhậm mới bồi thường? Ngân khoản này phải là rất lớn, ông có từ đâu?Xin ông cho biết chi tiết.

NVC: Tôi không rõ vị Tỉnh Trưởng tiền nhiệm( Đại Tá Bách) có giải quyết chuyện này hay không nhưng khi tôi làm Tỉnh trưởng được 8 ngày thì nhận được báo cáo Khẩn của Chi Khu Phù Cát lúc 7 giờ sáng, dân chúng đã biểu tình chận quốc lộ 1 và đòi tiền bồi thường đất bị trưng dụng thuộc phi trường Phù Cát. Ông Phó Tỉnh trưởng đã gửi một Đại Đội Cảnh Sát Dã Chiến đến tại chổ để ngăn chận cuộc nổi lọan của đồng bào. Tôi lập tức báo cho Thiếu Tá Bồng, Chi Khu Trưởng chờ tôi tại hiện trường để tôi đến giải quyết tại chổ. Thật ra, Bộ Tổng Tham Mưu đã gữi tiền đến tỉnh Bình Định lúc Trung Tá Trần Đình Vọng giữ chức vụ Tỉnh Trưởng để trả tiền cho những người bị trưng dụng đất để xây cất phi trường Phù Cát. Trung Tá Vọng làm thất thoát số tiền này và bị phạt tù.

Đến nơi, tôi được Thiếu Tá Bồng giới thiệu là Đại Tá Tỉnh Trưởng mới của Tỉnh. Đồng bào thấy tôi mặc bộ đồ bà ba đen, mang giày săn đan cao su, không có mang cấp bậc Đại Tá, họ có vẻ không tin tôi là Tỉnh Trưởng. Một vị Trung Tá Mỹ đi theo tôi nói tiếng Việt rất sõi, trình bày với đồng bào đây là Đại Tá Nguyễn Văn Chức, đương kim Tỉnh Trưởng. Tiếp theo lời của vị cố vấn Mỹ, tôi chào hỏi đồng bào xong, đưa ra chương trình trả tiền trưng dụng đất đai của phi trường Phù Cát. Tôi nói: “ Kể từ ngày mai, mỗi ngày Chi Khu sẽ đưa 10 người chủ đất vào Khu Tạo Tác Qui Nhơn, quí vị nên mang theo đầy đủ hồ sơ trưng dụng đất để trình cho Ủy Ban. Nếu đúng theo hồ sơ, quí vị sẽ được trả tiền bằng chi phiếu và lãnh tiền tại Ngân Khố Qui Nhơn với 7 % tiền lời kể từ ngày trưng dụng đất. Trung Úy Ba sẽ giao cho quí vị ngân phiếu trả tiền. Sau đó, một vị lớn tuổi đứng ra thay mặt đồng bào cám ơn chính quyền Tỉnh rồi họ tự động giải tán. Những ngày về sau, các nhân viên hữu trách đã giúp tôi mau mắn giải tỏa món nợ đã làm đồng bào đau khổ từ nhiều năm.

Tôi không nhớ rõ tổng số tiền bồi thường là bao nhiêu. Còn ngân khoản mà tôi có được để bồi thường là lúc tôi về nhậm chức Tỉnh Trưởng, tôi được đại sứ Bunker giúp cho 100 triệu đồng chuyển thẳng vào Ty Ngân Khố Bình Định. Số tiền này dùng làm quĩ Dân Sự Vụ và tình báo.

DPP: Tại sao ông chỉ mặc bộ đồ bà ba đen của Xây Dựng Nông Thôn ? Những khi tiếp khách hay tiếp những vị sĩ quan cao cấp hơn ông thì ông mặc y phục gì?

NVC: Tôi đến Bình Định nhận chức vụ Tỉnh Trưởng với quân phục trận, mang cấp bậc Đại Tá. Sau lễ bàn giao, tôi vào văn phòng Tỉnh và thay bộ quần áo đen của Xây Dựng Nông Thôn , mang giày săn đan cao su. Thật ra, tôi không thể mang quân phục Đại Tá vì thượng cấp giao cho trách nhiệm điều khiển hành quân Sư Đòan 22 Bộ Binh VNCH và Sư Đòan Mãnh Hổ Đại Hàn. Cả hai vị Tư Lệnh đều mang cấp bậc Thiếu Tướng nên phải mặc y phục XDNT. Tôi vẫn giữ nguyên bộ y phục XDNT trong công vụ hằng ngày, cũng như tiếp đón các phái đòan ngọai quốc và trung ương ra thăm viếng tỉnh Bình Định hay vào Sài Gòn họp, trình diện thượng cấp.

DPP: Có lời đồn là ông không được lòng của một ông dân biểu Bình Định, nên ông ta đã vận động để thuyên chuyển ông. Điều này đúng hay sai?

NVC: Tôi không hề nghe nói về việc này. Phó Tổng Thống Trần Văn Hương có nói với tôi là một số các vị Linh Mục ở Bình Định có xin Tổng Thống thuyên chuyển tôi đi nơi khác vì tôi quá mê tín. Nhưng đó là chỗ tư riêng ông Phó Tổng Thống đã nói với tôi như vậy, còn việc tôi đi khỏi tỉnh Bình Định thì không phải do việc đó.

DPP: Việc ông kỷ luật Trưởng Ty Xã Hội Bình Định thực hư như thế nào ?

Tôi đang đẩy mạnh phong trào bài trừ tham nhũng trong tỉnh. Một vị Nghị Viên Hội Đồng Tỉnh đến gặp tôi tại văn phòng, cho tôi xem một bản danh sách có tên những người được Bộ Xã Hội cấp tiền bồi thường về một vụ thiên tai mấy tháng trước Bản danh sách do Ty Xã Hội Tỉnh thiết lập có chử ký của người nhận trợ cấp. Có những người trong bản danh sách lãnh tiền nhiều lần mà ông Nghị Viên đã hight light lên và đưa tôi xem. Tôi cám ơn ông Nghị Viên và hứa sẽ đem việc này ra công lý. Tôi mời ông Trưởng Ty Xã Hội đến gặp tôi tại văn phòng trước sự hiện diện của 2 vị Quân Cảnh Tư Pháp. Tôi đả đưa cho 2 vị Quân Cảnh xem tài liệu trước khi ông Trưởng Ty đến. Lát sau, ông Trưởng Ty đến, tôi mời ngồi và đưa bản danh sách lãnh tiền có gạch vàng tên họ của những người đã lãnh tiền nhiều lần.

Xem xong, ông Trưởng Ty tái mặt và nói rằng đây là bản danh sách do nhân viên của ông sọan thảo. Tôi chỉ vào chử ký và con dấu của ông trên trang cuối. Tôi chỉ thị 2 vị Quân Cảnh còng tay ông Trưởng Ty và đưa đến giam giữ tại Trung Tâm Cải Huấn. Tôi gọi điện thọai cho Ông Giám Đốc Trung Tâm Cải Huấn, yêu cầu dùng một văn phòng nhỏ, để một giường và một bàn ăn, không điện thọai, radio. Mỗi ngày mang đến cho ông ấy ba bửa ăn đầy đủ do ngân khỏan của tôi đài thọ. Không ai được phép thăm viếng ông ta mà không có giấy cho phép của tôi. Hai hôm sau, ông Tổng Trưởng Xã Hội ở Sàigòn điện thọai báo cho tôi biết hôm sau ông sẽ đến gặp tôi tại Qui Nhơn. Tôi ra phi trường đón ông về văn phòng Tỉnh Trưởng và trình bầy tội trạng của ông Trưởng Ty. Ông Tổng Trưởng hỏi tôi sẽ xử lý như thế nào. Tôi nói với ông Tổng Trưởng là tôi sẽ đưa ông ấy đi làm lao công chiến trường ở Phù Mỹ độ một tuần lể và cho ông phục chức lại, không báo cáo về Trung Ương. Sau đó tôi đưa ông Tổng Trưởng đi thăm ông Trưởng Ty Xã Hội tại Trung Tâm Cải Huấn. Ông Tổng Trưởng bằng lòng về cách trừng phạt của tôi. Sau khi dùng cơm trưa xong, tôi đưa ông ra phi trường trở về Sàgòn.

Ông Trưởng Ty đã thi hành công tác tải đạn cho một Trung Đòan phía Bắc Qui Nhơn trong 7 ngày và được trả về Qui Nhơn và đảm nhận lại chức vụ Trưởng Ty Xã Hội.

DPP: Được biết ông có tặng cho trường Tham Mưu Chỉ Huy Cao Cấp ở tiểu bang Kansas tượng của vua Quang Trung, xin ông kể lại việc này.

NVC: Năm 1966, tôi và 28 Sĩ quan cấp Tá được Bộ Tổng Tham Mưu chỉ định theo học lớp “Tham Mưu Chỉ Huy Cao Cấp” tại Trường Đại Học Lục Quân Hoa Kỳ, Fort Leavenworth, Tiểu Bang Kansas. Tôi được chỉ định làm Sĩ quan Đại diện khóa học này.

Mọi người cùng chung góp tiền cho tôi để thực hiện món quà lưu niệm có ý nghĩa để tặng cho trường trong ngày khai giảng khóa học.

Từ thuở ấu thơ, tôi được nghe ông Nội tôi kể chuyện về các danh tướng Việt Nam trong quá khứ của lịch sử. Trong số quí vị danh tướng đó, tôi thích nhất là Tướng Nguyễn Huệ, khi lên ngôi lấy hiệu “Quang Trung Đại Đế” trong thế kỷ thứ 18, đã đánh tan quân nhà Mãn Thanh phương bắc, trong thời gian chớp nhóang vào dịp Tết Kỷ Dậu, giải phóng Thủ Đô Thăng Long, đem lại thanh bình cho nhân dân miền Bắc và Triều Đình nhà Lê. Thời gian cho phép ngắn ngủi nhưng tôi hết sức cố gắng để hoàn thành được tượng vua Quang Trung cưỡi trên lưng chiến mã đang phi nước đại, miệng thét to, với thanh gươm chỉ về phía trước, hàm râu bị gió thổi ngược về phía sau, được xưởng Thanh Lễ ở Bình Dương thực hiện. Tôi rất hài lòng về bức tượng. Tổng cộng chiều cao 1 mét 70, chiều dài 1mét 90. Tôi nhờ ông đóng thùng và bên trong được ràng buộc kỷ lưỡng.

Quà lưu niệm được mang lên máy bay và theo chúng tôi từ SàiGòn đến San Fransis- co, rồi đến phi trường Kansas City. Học viên và quà lưu niệm được chở về trường Đại Học Quân Sự. Tôi nhờ hai vị cố vấn cũ của tôi đang làm giáo sư trong trường giúp tôi cho chiếu ánh sáng vào món quà của phái đòan Việt Nam khi trình diễn trên sân khấu.

Đúng 8 giờ sáng học viên Đồng Minh và Mỹ lối 400 người cùng vào Đại Giảng Đường an tọa. Kế tiếp là ban Giáo Sư và Trung Tướng Giám Đốc đến chủ tọa. Ban quân nhạc trổi lên quốc thiều Mỹ, mọi người đứng lên chào quốc kỳ Mỹ. Sau thủ tục khai mạc là phần trình bày quà lưu niệm của đại diện học viên từng quốc gia theo mẫu tự a, b, …Mỗi quốc gia được dành 20 phút để trình bày ý nghĩa quà lưu niệm của mình nhưng họ chỉ dung có 3 hay 5 phút là xong. Việt Nam đứng cuối sổ nên khi tới phiên tôi thì còn quá nhiều thì giờ. Sau khi được giới thiệu tôi đẩy chiếc xe bốn bánh với tượng một ông Tướng đang cưỡi ngựa ra trận, ai nấy đều ngạc nhiên vì món quà lưu niệm của Việt Nam quá lớn. Tôi đẩy bức tượng đến gần máy vi âm và xoay ngang cho mọi người thấy rõ.

Tôi đến máy vi âm, mở lời chào Trung Tướng Giám Đốc, ban Giáo Sư, quan khách và các học viên Hoa Kỳ và Đồng Minh. Kế đó tôi xin phép Trung Tướng Giám Đốc được trình bày trong vòng 30 phút. Trung Tướng chấp thuận. Tôi bắt đầu:

Kính thưa Trung Tướng,

Kính thưa tòan thể quí vị,

Hôm nay, tôi rất hân hạnh được đứng đây để trình bày cùng quí vị lịch sữ của tượng này được chúng tôi mang đến Trường Đại Học của Lục Quân Hoa Kỳ tặng làm quà lưu niệm đánh dấu khóa học của phái đòan học viên Việt Nam Cộng Hòa. Chúng ta đều là thành phần ưu tú của Hoa Kỳ và của mỗi quốc gia. Lẽ cố nhiên là chúng ta luôn luôn văn ôn – võ luyện, học tập quân sử của các siêu cường và nhiều quốc gia khác liên quan đến quốc gia của mỗi chúng ta. Bây giờ, tôi xin trình diện quí ngài vị Tướng lừng danh của Việt Nam hồi thế kỷ thứ 18. Đó là Đại tướng quân Nguyễn Huệ, Quang Trung Đại Đế, người đã đánh bại quân đội Thanh Triều của phương Bắc trong một tuần lể giao tranh. Quang Trung Đại Đế là một chiến thuật gia và một thiên tài Tiếp Vận.

Xuất phát từ Qui Nhơn thuộc tỉnh Bình Định với 60 ngàn quân sĩ và phần tiếp vận tiên khởi. Đường sá từ Qui Nhơn ra Thanh Hóa rất hiểm trở thế mà đòan huấn luyện quân sĩ, mua sắm lương thực và mọi thứ hàng tiếp vận thật đầy đủ và chỉ mất 40 ngày là đại quân của ngài đã đến Thanh Hóa với quân số tham chiến là 200 ngàn cộng với 90 ngày lương thực cho tòan quân. Ông liên tiếp giáng những đòn chí tử vào quân Thanh và đã tiêu diệt gần hết, chỉ còn một số rất ít chạy được về Tàu. Quân nhà Thanh chọn quân Thiết Kỵ cao lớn, cưỡi ngựa Mông Cổ, ngựa và người mang giáp sắt khó bị sát hại. Vua Quang Trung huấn luyện một đạo quân tại An Khê gồm 6 ngàn người Bình Định thấp, nhỏ, đặt tên là quân Đằng Giáp và được trang bị một mã tấu nhỏ nhưng rất bén với một cái khiên bằng mây nhẹ nhưng bền bĩ. Khi xáp chiến với quân thiết kỵ Mãn Thanh cao lớn, quân Đằng Giáp đứng gần chân ngựa huơ mã tấu chặt vào đầu gối ngựa, ngay chổ hở của giáp sắt. Ngựa khụyu chân trước, anh lính Mãn Thanh gục đầu xuống, hở cổ ra chổ nối của bộ giáp, quân Đằng Giáp chỉ quay mã tấu lại, chặt một nhát vào cổ anh Tầu phù, người và ngựa đổ xuống chết như rạ…

Buổi tặng quà bế mạc. Trung Tướng Giám Đốc mời tôi lên văn phòng của ông và yêu cầu tôi giúp ông viết tiểu sử và công trạng của vua Quang Trung lên một trang giấy. Ông Trung Tướng quyết định đặt tượng vua Quang Trung ngay trước cửa ra vào Đại Giảng Đường, bao bọc bởi một bức tường bằng kính dày với tấm bảng mạ vàng đặt trên vách viết về chiến công hiển hách của người mà tôi kính mến suốt đời: QUANG TRUNG ĐẠI ĐẾ.

DPP: Xin chân thành cảm ơn Chuẩn Tướng đã dành nhiều thì giờ để trả lời phỏng vấn của chúng tôi. Trân trọng.

Đặng Phú Phong thực hiện cuối năm 2009

Tôi là một người Công Giáo sinh trưởng, lớn lên tại Qui Nhơn.Trong thời điểm Đại Tá Chức làm tỉnh trưởng tại Bình Định tôi là học sinh trung học. Cho đến ngày hôm nay hình ảnh tốt đẹp và liêm chính của môt chiến sĩ và sĩ quan quân đội Cộng Hòa nơi tôi vẫn phảng phất hình ảnh và gương mẫu của người tỉnh trưởng này, (cho dù ông ta không phải là Công Giáo và không được người Công Giáo ủng hộ như ông có tế nhị đề cập). Tất cả những gì ông Chức nhắc lại trong bài phỏng vấn theo tôi đều phù hợp với những gì tôi biết và nhớ được trong giai đoạn này tại thị xã Qui Nhơn cũng như tại ba quận phía bắc Bình Định là nơi mà một số người trong gia đình tôi phải di tản trong mùa Hè đỏ lửa 1972. Tôi hơi ngạc nhiên tại sao Take2Tango lại có vẻ quá tiêu cực và ác cảm với người chiến sĩ Cộng Hòa liêm chính này. Theo tôi thái độ này hơi hẹp hòi và bất công, không có lợi cho tình đoàn kết của những người yêu nước và chống Cộng.

*************

PHẦN ĐÓNG GÓP CỦA ĐỘC GIẢ

TIN TỨC.

Tin tức đọc để biết nhưng cũng có những độc giã đọc để tức nên gọi là TIN TỨC. Đại tá Nguyễn Văn Chức cựu Tỉnh trưởng tỉnh Bình Định, Chuẩn tướng Chỉ Huy Trưởng Công binh của QLVNCH; trùng tên dân biểu luật sư Nguyễn văn Chức.

Khoản cuối năm 1976, một số sĩ quan Không quân và chuyên viên bảo trì A-37 được CS đưa đi một nơi nào đó, để làm gì? sống chết ra sao? đến bây giờ cựu tù cải tạo không một ai rõ !!! Ai còn sống sót xin la lên "Lạy ông tôi ở bụi nầy".

Chiến đấu cơ A-37 chỉ mang các loại bomb NAPAL, không thể mang bomb CBU được. Hai loại máy bay dùng để thả CBU là C-130 hoặc C-141 và phải xử dụng hệ thống rada.

Số lượng CBU Mỹ cung cấp cho VNCH đếm trên đầu ngón tay. Tướng Lê Minh Đảo, Tư lệnh SĐ 18 đã xử dụng một quả duy nhất cho mặt trận Long Khánh mà toàn dân Việt nam ai ai cũng biết, còn theo sử sách sau 75 một số Tướng lãnh đã dùng CBU vung vải trong các mặt trận loạn cào cào… không kiểm chứng được! Tin thì có, không tin không có.

Tục truyền "CÂY KIẾM THẦN" rất tiếc THÁNH đã quên Trung tướng NGÔ QUANG TRƯỞNG hay NGUYỄN KHOA NAM nên bây giờ người dân Bình Định nói riêng và toàn dân Việt nói chung mới ra nông nổi nầy !!

Rất tiếc tôi không phải là phi công A-37 nên không được CS cho ra tù để lái A-37 thả CBU ngoài biên giới Hà Nội. Zdù 1 cái là Thái Lan rùi, vào Lãnh sự quán HK hay Cao ủy tỵ nạn CS rùi qua Mỹ mấy hồi.

TIN TỨC đọc cho VUI đừng TỨC, tức sẽ bễ bụng. Xin đọc bài của Trần Lý cho vui……. Vo Vem.

Đây là tin tức về 3 trái bom CBU.

May 16, 2009

Ðây là tin tức về 3 trái bom CBU:

1. Lúc tướng Lê Minh Ðảo chỉ huy phòng tuyến tại Xuân Lộc tháng tư năm 1975 chống lại buớc tiến quân VC, thì báo chí VNCH có loan tin là một trong 3 trái bom CBU đã thả xuống và đã tiêu diệt cả sư đoàn VC vì bom đốt cháy hết dưỡng khí (oxygen) khiến VC bị chết vì thiếu dưỡng khí (kiểu chết ngạt).

2. Sau đó, thấy tác dụng của của bom CBU hay quá, VNCH yêu cầu thả thêm 2 trái còn lại thì Mỹ bảo rằng chúng tôi đem tới 3 trái nhưng chỉ có một ngòi nổ…

3. Trong trận chiến biên giới Việt Hoa năm 1979, theo một sĩ quan VC từ miền Bắc vào thăm thân nhân tại Sàigòn, thì nhờ 2 trái bom CBU thả xuống làm chết mấy chục nghìn binh sĩ Trung Cộng nên Trung Cộng thua và phải rút binh.

4. Cách đây mấy năm, báo News Week của Mỹ có viết một bài nói về 28 nghìn ngôi mộ binh lính Trung Cộng chôn tại Quảng Ðông, mà trên mộ phần không ghi tên,, ngày và lý do chết.. theo lời của người ký giả Mỹ đã đến tận nơi quan sát và về viết lại như vậy.

5. Nguồn tin VC dùng 2 trái bom CBU của Mỹ cố tình để lại cho VC năm 1975 để đánh Trung Cộng năm 1979 là chính xác vì phù hợp với chuyện 28 nghìn quân Trung Cộng chết chôn tại Quảng Ðông mà không ghi rõ xuất xứ.

6. Quý vị nào còn có những tin tức liên quan tới 3 quả bom CBU của các báo VNCH năm 1975 và bài báo của ký giả Mỹ trên News Week, xin vui lòng phổ biến cho mọi người biết. Xin nhắc lại, theo báo chí ngày đó chỉ có 3 trái CBU mà thôi, Mỹ thả 1 trái "quảng cáo" và 2 trái còn lại đã để lại cho VC…làm tiền đồn chống Trung Cộng "bành trướng" sau này.

7. Các ký giả VNCH thời đó, nếu còn sống (như Bùi Bảo Trúc, Sao Biển, Nhất Tuấn Phạm Hậu…) nên viết lại và đưa ra những bài báo ấy để mọi người biết

Quả Bom Thả Trong Trận Long Khánh

Trần Lý

Trong Trận Long Khánh (Tháng 4 năm 1975), Không Quân Việt Nam Cộng Hòa có thả một quả bom đặc biệt, tiêu diệt cả Sư đoàn (?) quân CSBV, chặn đứng được cuộc tiến quân của chúng. Cho đến nay hảy còn nhiều câu hỏi quanh quả bom này và nhiều câu trả lời chưa được chính xác.

- Ðại tá Hùa Yến Lến (Tham mưu trưởng Hành quân SÐ 18 BB) gọi nó là CBU 82 (Daisy Cutter), cho rằng do Tướng Lê Minh Ðảo (Tư lệnh SÐ 18 BB) đề nghị, và được Bộ TTM QLVNCH chấp thuận qua trung gian của Tướng Nguyển văn Toàn (Tư lệnh Quân Ðoàn 3) để được sử dụng..

- Tướng Trần Quang Khôi (Tư lệnh Lực lượng Xung Kích QÐ3) ghi lại rằng : chính Ông sử dụng 2 quả bom CBU của KQ Biên Hòa trên chiến trường Long Khánh để chặn đứng quân địch và giải cứu Chiến đoàn 52 /SÐ 18 BB của ÐT Dũng khỏi bị tiêu diệt..

- Khi trả lời các câu hỏi của Nhà báo Vũ Mạnh Hùng trong cuộc phòng vấn dành cho Ðài truyền hình Little Saigon TV tại Santa Ana và Hệ thống Truyền hình VN VBN tại New Jersey, Tướng Lê Minh Ðảo cho biết : Ông không cần biết QL/VNCH còn mấy quả bom loại này, CQ cứ tấn công thì Ông sẽ..tiêu diệt chúng; và các cấp chỉ huy CSBV đã nhiều lần đến Trại Tập trung để hõi Ông về quả bom này..mà họ cho là bom neutrons của Mỹ (?)

Nhà báo Mỹ Alan Dawson trong ’55 days-The Fall of South VN’ thì ghi rẳng đây là các quả bom CBU được đưa từ Utapao đến Biên Hòa vào đãu tháng 4 năm 1975.

- Tác giả Chính Ðạo (Tiến sĩ Sử học), trong tâp sách 55 Ngày đêm, Cuộc xụp đổ của VNCH ghi rằng VNCH đã sử dụng cả CBU lẫn ‘Daisy Cutter’ (nghĩa là 2 loại bom..khác nhau !) tại Mặt trận Long Khánh .

- Tác giả Nguyển đức Phương trong ‘Những Trận đánh Lịch sử trong Chiến tranh VN 1963-1975 cho rằng : Tướng Toàn đã ra lệnh thả 2 quả Daisy Cutter tại Trận Long Khánh và giải thích lý do chỉ 2 quả được thả (trong số 5 quả còn lại) vì Hà nội phản kháng (!)

- Tác giả Trọng Ðạt trong bài ‘Trận Xuân lộc Chiến thắng cuối cùng’ (Nguyệt San Việt Nam Online) có ghi khá nhiều chi tiết về các quả bom này kể cả tên (viêt tắt) của các phi công đã thả (xin xem phần dưới) các quả bom đặc biệt này..

-20 Viện Khoa Học Quân sự của CSVN thì ghi lại (theo tài liệu của Dawson) là KQ VNCH đã thả 1 quả bom CBU-55 xuống Ngã ba Dầu Giây Long Khánh vào ngày 21 tháng 4 năm 1975. – Như vậy..quả bom thả tại Long Khánh là bom gì ?..Tác dụng của các quả bom này đã khiến CS phài la hoảng..thì tại sao lại chỉ thả 1, 2 quả..và ai thả ?

- Từ CBU..

Chiến trường Việt Nam đã được xem là nơi Hoa Kỳ thử nghiệm rất nhiều loại võ khí, từ võ khí quy ước đến những võ khí điện tử tối tân. Cũng tại VN, Hoa Kỳ đã tiêu thụ được khá nhiều bom-đạn còn tồn trữ từ sau Thế chiến thứ 2. Một trong những vũ khí C4 được KQ HK sử dụng nhiều nhất là bom, và bom còn được chia thành 2 nhóm :

- Bom khôn (Smart bomb) và Bom..ngu (Dumb bomb).

- Bom ngu, dĩ nhiên là do Phi công thả và do tài của Phi công để bom rơi trúng mục tiêu, còn Bom khôn thì được điều khiển bằng laser, radar..để tự tìm đến mục tiêụ

Một trong những sáng kiến về Bom mà các kỹ sư vũ khí HK đưa ra áp dụng tại VN là CBU hay Cluster Bomb Unit. Thật ra CBU chỉ là một áp dụng của việc nghiên cứu về loại vỏ khí có tên là Rổ bánh mì Molotov ( Molotov bread basket ) dùng năm 1937 trong Trận Nội chiến Tây Ban Nha Rổ bánh mì, đơn giản chỉ là một thùng lớn chứa nhiều quả bom nhỏ để khi phi cơ thả xuống, thùng mở ra và rải các quả bom nhỏ trên một diện tích rộng lớn. Như thế Cluster Bomb hày Bom chùm chỉ có mục đích là mở rộng vùng sát thương của Bom khi thả xuống mục tiêu.

Tại chiến trường VN, nhiều loại CBU đã được chế tạo : loại chống bộ binh là loại thường được dùng nhất, rồi đến loại chống chiến xa, chống các tiếp liệu quân sự.. có loại chứa đầy mìn và có loại chứa nhiên liệu đặc gây cháy.

- CBU chống bộ binh củng có nhiều loại như CBU-24 chứa 600 quả bom
nhỏ cở trái banh golf, mỗi quả golf nhỏ này khi nổ còn phóng ra 300 mảnh thép nhỏ chứa bên trong;CBU-46 bom chùm dạng như quả dứa, khi nổ còn tung mảnh ra xa hơn, vùng sát thương rộng hơn..Các loại CBU này thường được KQ HK sử dụng khi bay tấn công đường mòn HCM.

- Một trong những loại CBU chống chiến xa được dùng tại VN là MK-20 Rockeye, khi nổ sẽ phóng ra những bom nhỏ hình mũi tên dài 9 inches, chứa đầu nổ có thể xuyên phá lớp vỏ thép của chiến xa..

- Về CBU chứa mìn : 2 loại chính dùng trên chiến trường VN là Dragonteeth và WAAPM (Wide Area Anti Personnel Munition). Dragonteeth chứa những mìn nhỏ có khả năng gây mất..chân binh sĩ địch khi nổ, nhưng không gây..chết người còn WAAPM, được giử rất bí mật trong chiến tranh VN : WAAPM đ0ợc thả xuống trong các thùng nhựa plastic, khi chạm đất sẽ phóng ra các sợi thép mỏng manh như chân nhện, nếu chạm vào sợi thép, mìn sẽ nổ..

Bom được dùng thể thả vào các ổ phòng không của CSBV.

- Loại CBU thứ tư là là loại Bom chùm gây cháy (Cluster bomb incendiary device). Loại bom này cũng có tên là Fuel Air Explosives CBU-55 là bom thuộc loại này, chứa nhiên liệu propane :

CBU-55 nặng 750 pound (khoảng 340 kg) gồm 3 ngăn: một ngăn chứa propane, một ngăn chứa hỗn hợp khí khác và một ngăn chứa ngòi nổ. CBU-55 dài khoảng 2.3 m, đường kính 0.36 cm. Có 2 loại CBU-55 : Loại thứ nhất CBU-55/B chứa 3 bom BLU-73A/B đặt chung trong Hệ thống chứa SUU-49/B và loại thứ nhì là CBU-55 A/B chứa 3 BLU-73A/B trong thùng SU-49 A/B. Sự=2 0khác biệt là SUU-49B chỉ có thể thã bằng trực thăng hay phi cơ bay chậm, trong khi đó SUU-49A/B có thêm vi đuôi xếp lại nên có thể thả bằng các phi cơ bay nhanh như A-37, OV-10.. Các bom BLU nhỏ nặng khoảng 45 kg chứa ethylen oxyde lỏng.

Khi nổ bom sẽ làm văng các giọt ethylen, tạo thành một đám mây nhiên liệu đường kính từ 17-25 m ở độ cao 2-3m. Ðám mây này được kích hỏa bằng một ngòi nổ.. tạo thành một quầng lửa gây ngạt do thiếu oxy cho các sinh vật trong vùng..

Trong bài :’Kỷ niệm nhỏ với Ðồng đội Chiến trường xưa’ trên Nguyệt San Việt Nam On-line, Tác gỉa NgyThanh ghi lại như sau : ‘ Khi chiến xa T-54 của Cộng sản từ Tỉnh lộ 8B ở thôn Cam Võ trên bờ Bắc tràn qua sông Miếu Giang, Bộ TTM QL VNCH bí mật cho phép sử dụng lần đầu tiên trên chiến trường VN loại bom CBU-55. Trưa 1 tháng 5 năm 1972, sau khi ném ‘trái bom nguyên tử bỏ túi’ vào đoàn xe tăng đang vượt cầu Ðông Hà và làm cả đoàn xe chết khựng ngay trền cầu, Thiếu úy phi công Nguyễn Hàn mang chiếc A-37 về lại Phi đoàn 528 ở Ðà Nẵng bình an.. (Thiếu Úy Nguyễn Hàn sau đó đã hy sinh trong một phi vụ yểm trợ cho TÐ 8 TQLC vào đầu tháng 10-1972 tại Chợ Sài (Quảng Trị)

.. đến Daisy Cutter :

Chiến trường VN được các Nhà quân sự Mỹ xem là chiến trường của trực thăng, vì trực thăng giữ nhiều vai trò quan trọng như đổ quân, chuyển tiếp liệu, tản thương.. Trực thăng rất cần có đượ c những bải đáp an toàn, đũ rộng để xoay trở tại những vùng rừng rậm nơi chiến trường. Nhu cầu được đaạt ra cho Bộ Chỉ huy QL HK là tìm một loại bom nào có đủ sức công phá để tạo ra một khoảng trống càng rộng càng tốt có thể dùng làm bãi đáp cho trực thăng. Năm 1968, khi kiểm soát lại các kho tồn trữ võ khí, một sĩ quan KQ HK đã tìm được một số bom loại 4.5 tấn (10,000 lb) lưu trữ tại Trung Tâm tồn trữ võ khí của KQ tại Căn cứ Kitland (New Mexico).

Ðây là những quả bom của thập niên 50, khi Bộ Chỉ huy Không quân Chiến thuật HK còn sử dụng các Pháo đài bay B-36 làm lực lượng răn đe chính. B-36 đã được thay thế bằng các B-52 trong thập niên 60. KQ HK đã nghĩ rằng các quả bom 10,000 lb này có thễ sẽ đáp ứng được nhu cầu của Lục quân cho Lực lượng trực thăng ?

Nhưng vấn đề quan trọng nhất được đặt ra là : làm cách nào để thả những quả bom khổng lồ này ? Không quân, trên nguyên tắc, sẽ là quân chủng đảm nhận việc thả bom, nhưng ngay lúc này KQ HK không có loại phi cơ phóng pháo nào để thả được quả bom cỡ này : Bom không thể đưa vào khoang bụng của B-52, còn các phi cơ loại phóng pháo- chiến đấu như F-100, F-105.. lại không chở nổi loại bom quá nặng này, và biện pháp sau cùng là dùng các trực thăng hạng nặng hay Phi cơ vận tải để thả chúng..

Có thể dùng trực thăng, nhưng với sức nặng của quả bom thì chỉ một vài loại trực thăng có đủ khả năng để chở nổi chúng : Trực thăng cần cẩu khổng lồ của US Army loại CH-54 Skycrane có thể đeo được 1 quả, nhưng bay quá chậm và mỗi phi vụ chỉ thả đưỡc 1 quả nên chi phí để thả quả bom tăng lên quá cao

Biện pháp thứ nhì là dùng Phi cơ vận tải C-130 : C-130 đã được dùng trong các phi vụ thả dù tiếp tế, khoang bụng đủ lớn để có thể chở một lúc 2 quả bom và hơn nữa tầm hoạt động của phi cơ cũng rất thích hợp.. nhưng vì Lục quân muốn dùng trực thăng nên họ dành quyền thả trước và không đạt được kết quả mong muốn !

Ðến tháng 6 năm 1968, Chương trình dùng C-130 để thả những quả bom này được giao cho Không đoàn Vận tải Chiến thuật 463 tại Căn cứ KQ Clark (Philippines) nghiên cứu thực hiện. Thiếu tá Robert Archer, thuộc Phi đoàn 29 (KÐ 463) là ngưới đã thử thả những quả bom đầu tiên tại Căn cứ Kirtland. Tháng 10 năm 1968, những quả bom đầu tiên được thả thử tại Vùng 1 CT dùng Hệ thống Radar MSQ-77, hướng dẫn mục tiêu, đặt dưới đất tại PleiKu và Huế. Từ tháng 12-1968, bom được thả thử theo sự hướng dẫn của các Hệ thống radar thuộc TQLC HK, và từ mùa Xuân 1969, bom 10,000 lb đã được thả thường xuyên với tên gọi là Hệ thống võ khí M121

Ngay từ đầu, việc chọn C-130 để thả bom đã được xem là rất thích hợp. Một phi cơ C-130 có thể cất cánh từ Cam Ranh, chở 2 quả bom, có thể thả tại bất cứ mục tiêu tại Nam VN chỉ sau 1 giờ baỵ Các phi công của KÐ 463 có lẽ là những nhà thả bom chuyên nghiệp nhất, thả theo sự chỉ dẫn của radar MSQ-77 và theo tín hiệu của các nhân viên điều hành dưới đất. Ðể biến đổi một phi cơ vận tải C-130 bình thường sang thành phi cơ thả bom 10,000 lb, cần phải sửa đổi hệ thống liên lạc trên phi cơ để chuyên viên kỹ thuật ‘chất và thả hàng’ (loadmaster) ở trong khoang hàng hóa, có thể theo dõi được các làn sóng phát đi từ đài đặt dứới đất. Mỗi C-130 còn được trang bị thêm Hệ thống thả hàng 463L : gồm nhửng đường rầy đôi ặt trong khoang bụng phi cơ để giúp kiểm soát ‘hàng’ đặt sẵn trên một giàn gỗ (pallet), và khi thả thì sẽ thà cà..giàn. Bom đặt trên giàn và được đưa trực tiếp vào khoang bụng phi cơ.

Giàn bom được thả bằng dù, khi ra khỏi bụng phi cơ, dàn tự vỡ tung ra và bom được rơi tự động, giữ chậm lại bằng một dù nhỏ hình tam giác. Một ngòi nổ xuyên qua cây cối gắn nơi mũi bom sẽ được khởi động bằng một chong chóng nhỏ : khi bom chạm đến cây sẽ phát nổ, đốn ngã hết cây cối trong vùng như..chém hoa cúc (daisy cutter), và kết quả là tạo ra một khu vực tròn, trụi cây, có thể rộng đũ để 1 đến 3 trực thăng đáp xuống. Nhưng nếu ngòi nổ gắn nơi đảu bom bị tịt, thì ngòi nổ thứ nhì g n nơi đuôi bom sẽ giúp gây nổ. Bom thường được gây nổ ở độ cao khoảng 6 m trên mặt đất và tạo ra một bãi đất trống đường kính khoảng 100 feet (33 m). Như thế : Daisy Cutter là tên , đầu tiên, đặt cho Hệ thống võ khí M-121 này .

và những quả bom thả tại Long Khánh..

Ðến 1970, loại bom 10,000 lb còn lại từ Thập niên 50 đã được sử dụng hết. Trung tâm Võ khí HK đã chế tạo loại bom mới, khác hơn, dùng nhiên liệu lõng, pha trộn với thuốc nổ TNT, đặt trong những ngăn khác nhau (do đó có thể xem là một loại CBU). Loại bom này với ký hiệu BLU-82 nặng đến 15,000 lb, hình dạng như một bình chứa gaz propan e khổng lồ dài 141.6 in, đường kính 54 in và được thả theo cùng phương thức như thả M-121. Ðầu đạn của BLU-82 chứa 12,600lb nhiên liệu gây nỗ gồm ammonium nitrate, bột nhôm và nhựa dẻo polystyren.

BLU-82 được sử dụng lần đầu tiên trên chiến trường VN vào ngày 23 tháng 3 năm 1970 và KQ Chiến thuật HK đặt tên cho chiến dịch thả bom này là Commando Vault BLU-82 đã được dùng trong cuộc hành quân qua Campuchea (70), để tạo các bãi đáp cho trực thăng, pháo binh. Trong cuộc hành quân Lam sơn 719 của QL VNCH qua Lào, một số BLU-82 cũng đã được thả. Năm 1971, khi Không đoàn 463 HK giải tán, việc thả BLU được giao cho KÐ 374 Chiến thuật và đây là KÐ C130 sau cùng của HK hoạt động tại Ðông Nam Á. Khi sử dụng để đánh nơi tập trung quân cũa CQ, BLU-82 được thả, lúc rơi xuống cao độ 30 m, nhiên liệu rãi tỏa thành đường dài đến 300m, và đám mây nhiên liệu này được kích nổ, khi cháy nổ sẽ hút hết dưỡng khí trong một vùng, gây ngạt thở và tạo ra một chấn động theo sau..

Ai thả và ai…cho phép thả..?

Không quân VNCH có 2 chiếc C-130, trang bị hệ thống thả BLU-82. Tổng cộng số BLU được giao cho KQ VN là 17 quả (trong một lớp huấn luyện cấp tốc bên Hot Cargo, thuyết trình viên cho biết sẽ mang từ Thai Lan sang ..15 trái (?).

Chiếc phi cơ sau cùng của KQHK bị tổn thất tại VN là một chiếc C-130 bay từ Căn cứ Clark đến TSN, chở 2 quả BLU-82 để giao cho VNCH.. Theo tài liệu của Tác giả Trọng Ðạt trong bài ‘Trận Xuân lộc, Chiến thắng cuối cùng’ trên Nguyệt San Việt Nam On-line thì qua cuộc phỏng vấn Ðại Úy NHL , Phi công VN đầu tiên thả Daisy Cutter thì :

Ðại Úy NHL đã thi hành 3 phi vụ thả 3 trái bom :

- Trái thứ nhất thả ở Bắc Khánh Hòa – Trái thứ 2 ở phía Tây Nha Trang – Trái thứ 3 , không nhớ địa điểm, nhưng nhớ là thuộc phi vụ sáng 24-4-75 (?)

Ðại úy NHL cho biết : Khoảng 10 ngày trước khi Sài gòn thất thủ, phía M³ yêu cầu Không đoàn 53 Chiến thuAt (thuộc SÐ 5 KQ VNCH) cử 2 sĩ quan thả bom cao độ xuất sắc để thả bom Daisy Cutter mục đích lảm chậm lại cuộc tiến quân của CSBV. KÐ 53 CT cử 2 sỉ quan trưởng phi cơ xuất sắc nhất trong việc thả bom cao độ là Ðại Úy NHL thuộc PÐ 437 và Thiếu tá ÐQA thuộc PÐ 435..

Ngoài ra Ð/u cũng cho biết KQVN CH đã thả tổng cộng 10 quả Daisy Cutter, nhưng không nhớ thả lúc nào và thả tại đâụ Các quả bom do Th/t ÐQA và Th/t HN thả.

Một thân hữu khác cho biết Phi công NHL có thể (?) là Ð/u Mạc Hữu Lộc và ngoài ra còn các phi công Nguyễn Quế Sơn và Ð/u Của cũng có khả năng thả các BLU-62.

Về con số bom BLU-62 giao cho VNCH : các tài liệu hiện có vẫn chưa đồng ý với nhau :

- Tập ‘Quân Sử Không Quân Việt Nam Cộng Hòa’ trang 197 viết :

‘’..Trận Xuân lộc..Trong trận này các vận tải cơ C-130 Hercules thực hiện 150 phi xuất oanh tạc, sử dụng bom xăng ‘tự chế’ (gồm nhiều thùng xăng 200 lít có gắn ngòi nổ), bom chùm (gồm 3,4 trái bom nổ liên kết lại), và đặc biệt là bom CBU loại 7 tấn (15,000lb) Daisy Cutter, có sứ c công phá bình địa một vùng đường kính 150 m và sức sát hại trên một quy mô rộng lớn. Trái CBU đầu tiên được thả xuống cách Xuân lộc 4 km, đã khiến cả thành phố bị rúng động và mất điện, đưa tới những tin đồn B-52 oanh tạc trở lại, kết quả trọn Bộ Chỉ huy SÐ 341 của CSBV bị tiêu diệt.. Trước sau đã có 9 trái CBU được thả xuống Xuân lộc và các khu vực phụ cận..’ – Tác giả Robert Mikesh trong ‘Flying Dragons : The South Vietnamese Air Force’ ghi lại (trang 141) : ‘ Việt Nam được cung cấp tất cả 17 quả Daisy Cutter, .đả thả 15 quả, chỉ còn lại 2 quả..’

.. Ai ra lệnh thả..

Cho đến nay, sau hơn 30 năm các quả bom được thả..câu hỏi ai ra lệnh thả những quả bom này.. vẫn chưa có câu trả lới chính thức.. !

Theo hệ thống quân giai thông thường, quyết định thả bom sẽ được Bộ TTM ban hành theo yêu cầu của Vị Tư lệnh chiến trường và KQ sẽ thi hành quyết định nạy (Trong Hồi Ký của ÐT Cao văn Viên thì đây là những yêu cầu bình thướng theo Hệ thống Chỉ huy của QL VNCH) . nhưng trên thực tế Chiến trường VN vào những ngày cuối cùng của VNCH có nhiều điều phi lý và.. khó giải thích !

- Tướng Nguyễn văn Toàn, Tư lệnh Quân đoàn 3 cho biết :

‘…Sau khi Phòng tuyến của Chiến đoàn 52BB tại Ngã Ba Dầu Giây Long Khánh.b8 B vỡ vào đêm 15 tháng 4 năm 1975, Ông đã xin Bộ TTM cho ném bom Daisy Cutter để ngăn sức tiến quân của CSBV. Sáng 16 tháng 4 vào lúc 11 giờ sáng 2 trái bom đã được thả..xuống khu vực đóng quân của CS BV tại khu vực từ Ðịnh Quán xuống Ngã Ba Dầu Giây, loại khỏi vòng chiến hơn 10 ngàn quân CS, phá hủy nhiều Chiến xa và đại pháo của CS..Tôi đã đề nghị thả thêm 5 bom Daisy Cutter nữa.. nhưng được thông báo là tuy còn bom nhưng..không còn đầu nổ !’.

- Tường Trần Văn Nhật (Tư lệnh SÐ 2), viết trong Hồi Ký :

‘..Chính Tướng Toàn là Tư lệnh Chiến trường đã chấp thuận cho sử dụng 2 trong số 6 trái bom (vì chỉ còn có 2 đầu đạn) Daisy Cutter..thả xuống yểm trợ cho mặt trận Xuân lộc…Ðáng lý ra chúng ta có đến 27 trái bom này theo quyết định của ÐT Weyand trong chuyến viếng thăm VN vào tháng 2/75 cùng với Ông Phụ Tá Bộ trưỡng QP Eric Von MarbodẨRất tiếc chỉ có 6 trái đến được VN vào cuối tháng 4/75 và không hiểu tại sao chỉ có 2 ngòi nổ’

- Vào những ngày cuối cùng của VNCH, Hệ thống Chỉ huy Quân sự của QL VNCH đã gặp nhiều trắc trở, Tướng Nguyễn Cao Kỳ, tuy không còn chức vụ chính thức trong KQ, đã ..tự động trở về Quân đội và..vẫn ra lệnh được cho các..phi công !Trong ‘The Buđha’s Child’ (trang 331) Ông ghi lại :

‘..vì quả bom có sức công phá mạnh, nên TT Thiệu sợ rằng ..sẽ có kẻ ném quả bom này vào Dinh..do đó chỉ được phép sử dụng bom do chính Ông Ta quyết định (? ).. Một hôm Phòng Hành quân yêu cầu yểm trợ..Tôi không có sẵn võ khí trong tay, nên yêu cầu Vị Chỉ huy KQ cho thả , ông cho biết không có thẩm quyền. Tôi yêu cầu Vị Tổng Tham mưu trưởng..câu trả lời tương tự.. Tôi gọi nhiều Vị Tưóng khác, tất cả đều cùng câu trả lớị Tôi biết nếu tôi gọi Thiệu, ông ta sẽ..còn phải suy nghĩ, do đó tôi gọi Thủ Tướng Khiêm..Ông trả lời ..tùy tôi và sau khi tôi giải thích nhu cầu của tình hình.. Ông Khiêm cho biết : Ðồng ý..Tôi gọi lại cho Vị Chỉ Huy Hành quân và nói: OK , thả các quả bom.’ Ông này..chấp nhận thi hành lệnh cũa tôi.. và các quả bom được thà ‘

Dân Saigon

Người phi phi công lái C130 thả bom CBU ở Long Khánh tên là VCM, hiện nay là một mục sư ở vùng Los Angeles.

About these ads
This entry was posted in Quân Sự. Bookmark the permalink.